Doanh nghiệp Việt trước sức ép minh bạch hóa chuỗi cung ứng
(BKTO) - Các thị trường xuất khẩu đang đặt ra ngày càng nhiều tiêu chuẩn khắt khe về môi trường và nguồn gốc hàng hóa. Trong đó, quy định về chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) không chỉ là những yêu cầu mới đối với hàng hóa xuất khẩu, mà còn tạo sức ép buộc doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực quản trị và minh bạch hóa chuỗi cung ứng.

Yêu cầu đối với hàng hóa xuất khẩu ngày càng cao
Chia sẻ tại Hội thảo “Quy định về chống mất rừng của Liên minh châu Âu: Những điều doanh nghiệp cần biết” do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức ngày 22/9, ông Đậu Anh Tuấn - Phó Tổng Thư ký VCCI cho biết, thương mại quốc tế đang bước vào giai đoạn mà “luật chơi” được định hình bởi những tiêu chí mới. Nếu trong nhiều thập kỷ, năng lực cạnh tranh của một nền kinh tế xuất khẩu chủ yếu được đo bằng giá thành, chất lượng và tiến độ giao hàng, thì ngày nay, thị trường đặt thêm những yêu cầu về cách thức hàng hóa được sản xuất, nguồn gốc và những tác động của quá trình đó đối với môi trường, cộng đồng.
EUDR là một biểu hiện rõ nét của xu hướng này. Đây không phải một biện pháp đơn lẻ hay nhất thời, mà là một cấu phần trong hệ thống chính sách xanh được Liên minh châu Âu (EU) triển khai đồng bộ, cùng với cơ chế điều chỉnh carbon tại biên giới, các quy định về thẩm định chuỗi cung ứng, bao bì và lao động cưỡng bức. Điểm chung của các chính sách này là chuyển trọng tâm quản lý từ sản phẩm sang quá trình sản xuất, từ phạm vi biên giới quốc gia vào sâu trong chuỗi cung ứng. Vì vậy, theo ông Tuấn, cách tiếp cận phù hợp không phải là chờ từng quy định có hiệu lực mới tìm cách ứng phó, mà cần chủ động xây dựng năng lực nền tảng để thích ứng với một xu hướng thương mại đã và đang định hình.
Theo ông Tuấn, chỉ còn hơn 3 tháng nữa, từ ngày 30/12/2026, EUDR sẽ chính thức áp dụng đối với các doanh nghiệp lớn và vừa; từ ngày 30/6/2027 áp dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Quy định bao trùm hơn 80 dòng hàng thuộc 7 nhóm sản phẩm gồm gia súc, ca cao, cà phê, dầu cọ, cao su, đậu tương và gỗ, với 3 điều kiện bắt buộc: sản phẩm không gây mất rừng; được sản xuất hợp pháp theo pháp luật của quốc gia nơi sản xuất và được khai báo trong Tuyên bố thẩm định.
Đối với Việt Nam, ông Tuấn nhấn mạnh, đây không phải câu chuyện của một vài lô hàng riêng lẻ. Cà phê, cao su, gỗ và sản phẩm gỗ đều là những nhóm hàng xuất khẩu chủ lực, trong khi EU vừa là một trong những thị trường lớn, vừa có vai trò định hướng tiêu chuẩn đối với nhiều thị trường khác. Do đó, những năng lực mà doanh nghiệp Việt Nam xây dựng hôm nay để đáp ứng EUDR không chỉ quyết định khả năng tiếp cận thị trường châu Âu, mà còn có thể tác động đến vị thế của hàng hóa Việt Nam trong các chuỗi cung ứng toàn cầu.
Đáng lưu ý, đại diện VCCI cho rằng, doanh nghiệp Việt Nam cần nhận diện rõ một đặc điểm quan trọng của EUDR. Về mặt pháp lý, nghĩa vụ thực hiện quy định thuộc về các chủ thể kinh doanh tại EU, nên doanh nghiệp Việt Nam không phải đối tượng chịu sự điều chỉnh trực tiếp. Tuy nhiên, về thực tế, phần lớn dữ liệu cần thiết để thực hiện nghĩa vụ đó lại nằm ở phía Việt Nam: từ thửa đất của người nông dân, cơ sở thu mua đến nhà máy sơ chế, chế biến.
“Nghĩa vụ ở một phía, còn khả năng thực hiện lại ở phía bên kia. Đó chính là lý do vì sao một quy định của châu Âu lại trở thành phép thử đối với năng lực quản trị chuỗi cung ứng của Việt Nam” - ông Tuấn nói.
Chia sẻ thêm về yêu cầu thực thi EUDR, bà Trần Minh Thu - Phòng WTO và Hội nhập, Ban Pháp chế, VCCI - cho biết, doanh nghiệp vi phạm có thể phải đối mặt với nhiều biện pháp khắc phục và chế tài nghiêm khắc, từ yêu cầu khắc phục thiếu sót, chặn hoặc thu hồi hàng hóa vi phạm, thậm chí tiêu hủy hàng hóa, đến phạt tiền, tịch thu hàng hóa và khoản thu từ giao dịch, hoặc bị cấm tham gia đấu thầu.

Doanh nghiệp cần nâng cao năng lực quản trị chuỗi cung ứng
Trước những yêu cầu từ việc thực thi EUDR, ông Đậu Anh Tuấn đưa ra 3 khuyến nghị đối với doanh nghiệp, trước hết là thay đổi cách tiếp cận từ “hồ sơ xuất khẩu” sang “dữ liệu chuỗi cung ứng”. Theo ông Tuấn, đáp ứng EUDR không đơn thuần là chuẩn bị thêm một bộ chứng từ ở khâu cuối, mà đòi hỏi khả năng truy xuất xuyên suốt từ thửa đất đến container. Trong một chuỗi cung ứng có nhiều tầng trung gian, nếu thông tin không được tổ chức và kết nối đầy đủ, doanh nghiệp dù sản xuất hợp pháp, không liên quan đến mất rừng, vẫn có thể gặp khó khăn trong việc chứng minh điều đó.
Cùng với thay đổi cách tiếp cận, doanh nghiệp cũng cần chuyển từ tuân thủ đơn lẻ sang hợp tác theo ngành hàng. Không một doanh nghiệp nào, dù có quy mô lớn, có thể tự mình số hóa dữ liệu của hàng trăm nghìn hộ sản xuất. Đây là bài toán cần sự phối hợp của cả ngành hàng, trong đó hiệp hội có vai trò dẫn dắt, cơ quan nhà nước hỗ trợ về dữ liệu đất đai, dữ liệu rừng và các doanh nghiệp, chủ thể trong chuỗi cùng chia sẻ chi phí một cách hợp lý.
Một yêu cầu khác được ông Tuấn nhấn mạnh là chuyển từ tâm thế bị động sang chủ động. Việt Nam đã được EU xếp vào nhóm quốc gia có mức rủi ro thấp, tạo lợi thế nhất định khi thực hiện EUDR, giúp giảm đáng kể gánh nặng chứng minh và xác suất hậu kiểm. Tuy nhiên, việc xếp hạng ở cấp quốc gia không thay thế nghĩa vụ đối với từng lô hàng. Lợi thế này chỉ thực sự trở thành lợi thế cạnh tranh khi được chuyển hóa thành những hồ sơ và dữ liệu cụ thể của từng doanh nghiệp. Ngược lại, nếu chủ quan, doanh nghiệp hoàn toàn có thể đánh mất lợi thế đang có.
Từ thực tiễn hỗ trợ doanh nghiệp, ông Tuấn cũng lưu ý hai thái cực trong nhận thức về EUDR. Một là cho rằng quy định còn xa, hoặc nếu không xuất khẩu được sang EU thì có thể chuyển sang thị trường khác. Hai là chuẩn bị vượt quá yêu cầu, làm phát sinh chi phí không cần thiết do chưa phân biệt rõ đâu là nghĩa vụ bắt buộc của EUDR, đâu là yêu cầu bổ sung từ khách hàng hoặc các chứng nhận bền vững tự nguyện. Theo ông Tuấn, cả hai cách tiếp cận này đều có thể làm gia tăng chi phí; vì vậy, hiểu đúng và thực hiện đúng mức yêu cầu là cách hiệu quả nhất để doanh nghiệp kiểm soát chi phí tuân thủ.
Đại diện VCCI cho rằng, mỗi lần thị trường nâng chuẩn cũng là một lần doanh nghiệp Việt Nam đứng trước lựa chọn: rút lui về những phân khúc dễ tính hơn hay nâng cao năng lực để tiếp tục hiện diện tại những thị trường có yêu cầu cao.
“Kinh nghiệm nhiều năm qua cho thấy, mỗi lần chúng ta chọn vươn lên, vị thế của hàng hóa Việt Nam lại được nâng lên một bậc. EUDR, vì vậy, nên được nhìn nhận không chỉ như một nghĩa vụ tuân thủ, mà như một cơ hội để minh bạch hóa và chuẩn hóa những chuỗi cung ứng quan trọng bậc nhất của nền nông nghiệp và công nghiệp chế biến Việt Nam” - ông Tuấn nói.
Ở góc độ quản lý nhà nước, bà Nguyễn Thị Thu Trang - Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) - cho rằng, các cơ quan chức năng cần ưu tiên số hóa, tọa độ hóa dữ liệu các vùng sản xuất những sản phẩm thuộc phạm vi EUDR; hỗ trợ xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc; đồng thời tăng cường trao đổi với EU để tìm kiếm các giải pháp kỹ thuật phù hợp, qua đó hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu của thị trường một cách hiệu quả./.
Tin liên quan
Có thể bạn quan tâm
Kế hoạch vốn nhà nước 2026 - 2030: Thay đổi tỷ lệ tại 6 doanh nghiệp, ngân hàng
(BKTO) - Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng vừa ký Quyết định số 2054/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp (DN) giai đoạn 2026 - 2030.