aa
◐

Đột phá chính sách phải chuyển hóa thành sức bật cho địa phương, doanh nghiệp

TRẦN THIỆN |

(BKTO) - Những thay đổi mạnh mẽ về thể chế, phân cấp, phân quyền và các chính sách thúc đẩy khu vực tư nhân đang mở ra dư địa phát triển mới cho địa phương, doanh nghiệp. Tuy nhiên, dư địa đó chỉ thực sự trở thành động lực tăng trưởng khi các đột phá về chính sách được chuyển hóa thành hiệu quả thực thi, khơi thông nguồn lực và tạo ra những kết quả cụ thể trong thực tiễn.

Quang cảnh Diễn đàn Kinh tế mới thường niên 2026. Ảnh: T.THIỆN 

Nhiều thách thức trong tăng trưởng

Chia sẻ tại Diễn đàn Kinh tế mới thường niên 2026 với chủ đề “Chính sách đột phá và sức bật của địa phương, doanh nghiệp”, do Ban Chính sách, chiến lược Trung ương phối hợp với Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức chiều 3/10, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị cho biết, nền kinh tế đi qua 9 tháng năm 2026 với những kết quả tích cực, nhưng đồng thời cũng đứng trước yêu cầu rất lớn về tạo thêm động lực tăng trưởng.

GDP quý I tăng 7,83%, quý II tăng 8,39%, quý III tăng 9,95%, đưa tăng trưởng 9 tháng ước lên 9,01%. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt khoảng 434,3 tỷ USD, tăng 24,5%; vốn FDI thực hiện trong 9 tháng đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1%; giải ngân đầu tư công đạt 643 nghìn tỷ đồng, bằng 62,9% kế hoạch.

Ở cấp địa phương và doanh nghiệp, nhiều tín hiệu bứt phá cũng đã xuất hiện. Qua 9 tháng, 12/34 tỉnh, thành phố đạt tốc độ tăng trưởng GRDP hai con số, 27/34 địa phương có tốc độ tăng trưởng quý III cao hơn quý II. Khu vực doanh nghiệp, nhất là kinh tế tư nhân, tiếp tục thể hiện sự năng động khi mạnh dạn tham gia những lĩnh vực mới, lĩnh vực khó như ô tô điện, hạ tầng chiến lược, năng lượng, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo...

Tuy nhiên, theo Trưởng Ban Nguyễn Thanh Nghị, những kết quả này mới là bước đầu. Sức bật giữa các địa phương và khu vực doanh nghiệp chưa đồng đều, trong khi không ít điểm nghẽn vẫn hiện hữu. Để đạt mục tiêu tăng trưởng trên 10% cả năm, quý IV cần tăng 12,5%; công nghiệp - xây dựng tăng thấp hơn 1,1% mục tiêu cả năm; tiêu dùng chưa tạo được đột phá; đầu tư tư nhân mới tăng 14%; số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường tháng 9 giảm 26,3% so với cùng kỳ. Khoảng cách giữa khu vực kinh tế trong nước và khu vực FDI cũng còn lớn, khi xuất khẩu 9 tháng của khu vực trong nước chỉ tăng 6,1%, trong khi khu vực FDI tăng 29,2%. Chính quyền hai cấp vận hành đã tạo ra bộ máy thông suốt hơn nhưng chất lượng vận hành còn chưa đồng đều, nhất là ở cấp cơ sở…

Từ khoảng cách giữa kết quả đã đạt được và yêu cầu phát triển, Trưởng Ban Nguyễn Thanh Nghị cho rằng mục tiêu tăng trưởng năm 2026 và cả giai đoạn 2026-2030 đòi hỏi không chỉ nỗ lực cao mà còn phải sáng tạo, thay đổi cách nghĩ, cách làm để tạo ra đột phá trong phát triển.

Dưới góc nhìn quốc tế, bà Mariam J. Sherman - Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Campuchia và Lào - đánh giá, Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới khi Nghị quyết 19-NQ/TW xác lập mô hình phát triển mới, chuyển từ tăng trưởng chủ yếu dựa vào tăng vốn và lao động sang tăng trưởng dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và sử dụng hiệu quả nguồn lực. Theo bà Mariam J. Sherman, định hướng đã rõ, nhưng câu hỏi quan trọng là làm thế nào để các chính sách đột phá tạo ra kết quả mà doanh nghiệp, địa phương và người dân có thể nhìn thấy trong thực tế.

Muốn vậy, trước hết phải thay đổi cách thức quản trị. Bà Mariam J. Sherman nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ kiểm soát đầu vào sang đánh giá kết quả; từ quản lý hành chính sang quản trị phát triển, từ tiền kiểm sang hậu kiểm thông minh. Với khu vực công, thước đo không chỉ là thủ tục có đúng hay ngân sách đã được giải ngân, mà phải là người dân và doanh nghiệp nhận được gì từ chính sách và khoản đầu tư đó.

Điều này đòi hỏi quy định phải rõ ràng, ổn định, được áp dụng nhất quán; doanh nghiệp và nhà đầu tư cần một môi trường pháp lý công bằng, có thể dự liệu, với ít thủ tục phê duyệt trước hơn và giám sát chặt hơn ở những nơi có rủi ro cao. Đồng thời, địa phương được trao thẩm quyền phải đi kèm trách nhiệm giải trình. Khi các địa phương có quy mô lớn hơn và gánh vác nhiều trách nhiệm hơn về dịch vụ công, hạ tầng, môi trường kinh doanh, chính địa phương sẽ trở thành những động lực quan trọng của mô hình tăng trưởng mới.

Cùng với thể chế, bài toán nguồn lực cũng được đặt ra ở quy mô lớn. Kế hoạch đầu tư giai đoạn 2026-2030 đòi hỏi nguồn lực khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương 1,45 nghìn tỷ USD, trong đó 80% dự kiến đến từ khu vực tư nhân. Theo bà Mariam J. Sherman, nguồn lực công không thể đáp ứng được hết nhu cầu này và hệ thống ngân hàng cũng không nên phải gánh phần lớn trách nhiệm, bởi các dự án hạ tầng có vòng đời dài cần nguồn tài chính dài hạn.

Bởi vậy, Việt Nam cần phát triển thị trường trái phiếu trong nước theo chiều sâu, mở rộng cơ sở nhà đầu tư, đồng thời hướng tới nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức đầu tư. Đầu tư công cũng cần đóng vai trò mở đường để thu hút vốn tư nhân. Với những dự án mà doanh thu khó dự tính, rủi ro tỷ giá còn lớn hoặc điều khoản hợp đồng chưa đủ ổn định, cần có những cơ chế kết hợp nhiều nguồn vốn, gồm vốn Nhà nước, vốn vay ưu đãi và vốn tư nhân, cùng với bảo lãnh, các công cụ tăng cường tín dụng và cơ chế hỗ trợ chuẩn bị dự án.

Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị phát biểu tại Diễn đàn. Ảnh: T.THIỆN

Năng lực thực thi quyết định sức bật tăng trưởng

Nếu chính sách tạo ra dư địa, thì thực thi quyết định dư địa đó có được chuyển hóa thành tăng trưởng hay không.

Ông Hồ Sỹ Hùng - Chủ tịch VCCI cho biết, từ một số kết quả khảo sát của VCCI phản ánh 4 khoảng cách lớn trong thực thi.

Thứ nhất, khoảng cách giữa quyền được trao trên văn bản và hành vi thực tế. Ví dụ về thức ăn chăn nuôi nhập khẩu: pháp luật cho phép doanh nghiệp lựa chọn giữa thuê tổ chức chứng nhận hợp quy với chi phí khoảng 5 triệu đồng mỗi lô và tự đánh giá sự phù hợp với chi phí khoảng 700.000 đồng. Dù được pháp luật cho phép lựa chọn, doanh nghiệp vẫn thường chọn phương án đắt hơn. Khi quy định chưa rõ, cơ quan thực thi có xu hướng lựa chọn phương án an toàn cho mình, còn rủi ro lại dồn về phía doanh nghiệp.

Thứ hai, khoảng cách giữa chính sách Trung ương và cách diễn giải tại từng địa phương. Đơn cử, trong lĩnh vực thủy sản, cùng một sản phẩm như tôm, cá, mực, ngao nhưng cơ quan thuế ở các địa phương có thể đưa ra cách hướng dẫn khác nhau về thuế suất. Với thuế thu nhập doanh nghiệp, cách xác định thế nào là chế biến thủy sản cũng có thể khác nhau giữa các kỳ kiểm tra và giữa các cơ quan. Doanh nghiệp có thể dự đoán chính sách của Trung ương nhưng khó dự đoán chính sách đó sẽ được áp dụng như thế nào ở từng địa phương.

Thứ ba, khoảng cách giữa phân cấp và năng lực thực thi. VCCI cho rằng, cắt giảm bộ máy và phân cấp là cần thiết, nhưng trong ngắn hạn, một số nhiệm vụ đã được giao cho cấp xã trong khi nhân lực chuyên môn chưa được bố trí kịp thời. Có doanh nghiệp mất hơn 7 tháng vẫn chưa xác định được cơ quan cấp phép nhập khẩu chất chuẩn để kiểm nghiệm chất lượng. Dữ liệu giữa các địa phương cũng chưa được kết nối, dẫn đến có trường hợp doanh nghiệp phải tự gửi và thúc giục các cơ quan ở nhiều địa phương để hoàn tất việc xác nhận.

Thứ tư, khoảng cách giữa giảm gánh nặng thủ tục và kiến tạo phát triển. Nhiều địa phương đã xử lý thủ tục nhanh hơn nhưng vai trò hỗ trợ, kiến tạo, nhất là với hộ kinh doanh, vẫn còn yếu.

Từ những khoảng cách trên, VCCI đề xuất một loạt giải pháp nhằm đưa đột phá thực thi trở thành năng lực cạnh tranh.

Trước hết là xác lập nguyên tắc thực thi an toàn cho cả người tuân thủ và cán bộ thực thi, trong đó khi quy định có nhiều cách hiểu thì áp dụng cách hiểu có lợi hơn cho người dân, doanh nghiệp; không từ chối tiếp nhận hồ sơ vì thiếu văn bản hướng dẫn; người thực hiện đúng hướng dẫn bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền được miễn trách nhiệm và không áp dụng hồi tố trong trường hợp bất lợi.

Cùng với đó là bảo đảm cách hiểu thống nhất trên toàn quốc thông qua hướng dẫn của các bộ, ngành kèm danh mục tra cứu và ví dụ cụ thể; ý kiến giải đáp của cơ quan Trung ương cho một địa phương cần được công khai và áp dụng chung cho các trường hợp tương tự.

Phân cấp cũng phải đi đôi với năng lực và liên thông dữ liệu. Mỗi thủ tục cần có một đầu mối rõ ràng; nhân lực cấp xã được bố trí theo khối lượng hồ sơ thực tế; cấp tỉnh hỗ trợ thường xuyên cho cấp xã trong giai đoạn đầu. Việc xác nhận giữa các tỉnh cần được thay bằng tra cứu dữ liệu và doanh nghiệp chỉ nên phải khai báo một lần với cơ quan đầu mối.

Đặc biệt, kết quả thực thi cần được đo bằng kết quả thực tế thay vì chỉ dựa vào báo cáo tự đánh giá. VCCI đề xuất xây dựng bộ chỉ số độc lập về thời gian xử lý, chi phí thực tế và mức độ nhất quán trong áp dụng; công khai định kỳ tỷ lệ hồ sơ trễ hạn của từng cơ quan. Việc đánh giá người đứng đầu cũng cần có tầm nhìn dài hơn, bởi phân tích của VCCI cho thấy chính sách cần khoảng ba năm để phát huy tác động, qua đó bảo đảm các cải cách khó có tính bền vững, không bị “xôi đỗ”.

Từ những điểm sáng như “luồng xanh” trong đầu tư hay cửa khẩu thông minh, VCCI đề nghị sớm tổng kết, nhân rộng các mô hình tốt, đồng thời tạo sự cạnh tranh giữa các địa phương về chất lượng thực thi chứ không chỉ về ưu đãi hay chính sách./.