GDP quý IV phải tăng trên 12,5%: Nguồn lực nào tạo thêm tăng trưởng?
(BKTO) - GDP 9 tháng năm 2026 tăng 9,01%, tạo nền tảng tích cực cho chặng nước rút cuối năm. Nhưng để đạt mục tiêu tăng trưởng cả năm từ 10% trở lên, GDP quý IV phải tăng trên 12,5%, một yêu cầu tạo áp lực lớn cho điều hành kinh tế. Bài toán không chỉ là huy động thêm vốn, đẩy nhanh giải ngân hay mở rộng sản xuất, mà còn là nhận diện đúng dư địa, tháo gỡ điểm nghẽn và chuyển hóa nguồn lực thành giá trị gia tăng thực chất.

Khơi thông nguồn lực, mở rộng dư địa tăng trưởng
Mục tiêu tăng trưởng trên 12,5% trong quý IV đòi hỏi tạo thêm động lực trong thời gian ngắn, nhưng không thể trông chờ vào một nguồn lực riêng lẻ. Đầu tư công, đầu tư tư nhân, sản xuất công nghiệp, xuất khẩu và tiêu dùng trong nước có quan hệ chặt chẽ; chỉ khi cùng vận động và hỗ trợ lẫn nhau, các động lực này mới tạo ra mức tăng trưởng đủ lớn.
Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), GDP quý III/2026 tăng 9,95% so với cùng kỳ, đưa mức tăng trưởng 9 tháng lên 9,01%. Trong quý III, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 12,5%, dịch vụ tăng 9,54%; 2 khu vực này đóng góp gần 95% mức tăng giá trị tăng thêm của nền kinh tế. Cơ cấu đó cho thấy dư địa tăng trưởng trước mắt chủ yếu nằm ở khả năng duy trì nhịp sản xuất, mở rộng thị trường và nâng cao hiệu quả đầu tư.
Tuy nhiên, dư địa tăng trưởng không chỉ nằm ở những nguồn lực chưa được huy động, mà còn ở những nguồn lực đã có nhưng chưa phát huy tác dụng. Vốn đã được bố trí nhưng dự án chưa triển khai; đất đai đã được quy hoạch nhưng chưa đưa vào sử dụng; doanh nghiệp có đơn hàng nhưng vướng nguyên liệu, chi phí và thủ tục; người dân có nhu cầu tiêu dùng nhưng sức mua còn hạn chế.
Một trong những việc cần làm ngay là rà soát các nguồn lực hiện có, xác định phần có thể chuyển hóa thành sản lượng và giá trị gia tăng ngay trong quý IV. Với dự án đầu tư, cần tháo gỡ vướng mắc về thủ tục, giải phóng mặt bằng, vật liệu và tổ chức thi công để những công trình đủ điều kiện có thể hoàn thành hoặc sớm đưa vào khai thác. Với doanh nghiệp, cần xử lý các rào cản cản trở mở rộng sản xuất, lưu thông hàng hóa và tiếp cận thị trường. Với tài sản công, đất đai và các dự án tồn đọng, cần phân loại rõ khả năng tiếp tục triển khai, phương án xử lý và thời hạn thực hiện.
Tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9/2026, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương rà soát kịch bản tăng trưởng sau 9 tháng, xác định cụ thể phần còn thiếu hụt và nhận diện dư địa có thể khai thác trong quý IV; đồng thời tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn về đầu tư, đất đai, giải phóng mặt bằng và thủ tục triển khai dự án.
3 động lực cần tăng tốc, nhưng phải tạo ra giá trị thực
Đầu tư công là một trong những động lực có thể tác động trực tiếp đến tăng trưởng trong quý IV. Tuy nhiên, giải ngân không thể trở thành mục tiêu tự thân. Vốn được thanh toán chưa đồng nghĩa với công trình hoàn thành; công trình hoàn thành cũng chưa tự động tạo ra hiệu quả kinh tế nếu thiếu kết nối, không được khai thác đúng công năng hoặc không đáp ứng nhu cầu thực tế.
Do đó, yêu cầu đẩy nhanh giải ngân cần đi cùng việc rà soát tiến độ và chất lượng thực hiện. Nguồn vốn nên tập trung cho những dự án đủ điều kiện, có khả năng tạo khối lượng thực hiện và sớm đưa tài sản vào khai thác. Những dự án chậm do nguyên nhân chủ quan phải được xác định rõ trách nhiệm; vốn chưa có khả năng sử dụng cần được xem xét điều chuyển theo quy định, tránh để nguồn lực nằm chờ trong khi nhu cầu đầu tư cấp thiết vẫn chưa được đáp ứng.
Động lực thứ hai là sản xuất công nghiệp và xuất khẩu. Trong 9 tháng, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 434,30 tỷ USD, tăng 24,5% so với cùng kỳ; nhập khẩu đạt 453,72 tỷ USD, tăng 36,7%, khiến cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 19,42 tỷ USD. Nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu cho thấy quy mô giao thương tăng mạnh, đồng thời đặt ra yêu cầu đánh giá kỹ hơn chất lượng tăng trưởng và khả năng giữ lại giá trị trong nước.
Xuất khẩu tăng tạo thêm đầu ra cho sản xuất, nhưng kim ngạch lớn chưa chắc đồng nghĩa với giá trị gia tăng trong nước tăng tương ứng. Nếu doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu, linh kiện và công nghệ nhập khẩu, phần giá trị được giữ lại trong nền kinh tế có thể chưa tương xứng với quy mô xuất khẩu. Sự phụ thuộc lớn vào khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng khiến tăng trưởng nhạy cảm hơn với biến động đơn hàng và chuỗi cung ứng quốc tế.
Trong quý IV, cần hỗ trợ doanh nghiệp duy trì đơn hàng, giảm chi phí logistics, khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại và xử lý kịp thời vướng mắc về thủ tục xuất nhập khẩu. Đồng thời, phải thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với các chuỗi sản xuất, nâng cao năng lực cung ứng và tỷ lệ nội địa hóa. Mục tiêu không chỉ là xuất khẩu nhiều hơn, mà còn là tạo ra nhiều giá trị hơn từ mỗi đơn hàng.
Động lực thứ ba là tiêu dùng trong nước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng theo giá hiện hành đạt khoảng 5.925.700 tỷ đồng, tăng 13,4% so với cùng kỳ; nếu loại trừ yếu tố giá, mức tăng là 7,8%. Đây là cơ sở tích cực để khai thác nhu cầu mua sắm, du lịch và dịch vụ trong giai đoạn cao điểm cuối năm.
Tuy nhiên, kích cầu không thể chỉ dựa vào khuyến mại hay các chương trình thúc đẩy mua sắm ngắn hạn. Sức mua bền vững phải dựa trên việc làm, thu nhập và niềm tin của người tiêu dùng. Thúc đẩy tiêu dùng cần gắn với bảo đảm nguồn cung, ổn định thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp duy trì sản xuất và tạo việc làm. Du lịch, thương mại, dịch vụ và thương mại điện tử có thể góp phần mở rộng tổng cầu, nhưng phải đi cùng kiểm soát giá cả và chất lượng hàng hóa. Tăng trưởng từ tiêu dùng chỉ thực sự bền vững khi sức mua được cải thiện bằng thu nhập thực, thay vì chủ yếu dựa vào giá tăng hoặc các biện pháp kích cầu nhất thời.
Thước đo cuối cùng là hiệu quả của nguồn lực
Bên cạnh dư địa trong nước, nền kinh tế còn chịu tác động từ nhu cầu thị trường quốc tế, chính sách thương mại, giá nguyên liệu, chi phí vận tải và biến động tài chính. Ở trong nước, khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp, tiến độ dự án và sức mua cũng giới hạn tốc độ chuyển hóa nguồn lực thành tăng trưởng.
Mỗi Bộ, ngành, địa phương cần lượng hóa phần tăng trưởng còn thiếu, xác định rõ lĩnh vực có khả năng đóng góp thêm và gắn từng giải pháp với kết quả có thể kiểm chứng. Không chỉ theo dõi số vốn đã giải ngân, mà phải đo khối lượng hoàn thành và năng lực khai thác được tạo ra; không chỉ nhìn kim ngạch xuất khẩu, mà cần quan tâm giá trị gia tăng trong nước; không chỉ thúc đẩy bán lẻ, mà phải theo dõi sức mua thực và khả năng cải thiện đời sống người dân.
Điều quan trọng là làm rõ nguồn lực đã phân bổ có đến đúng nơi, đúng thời điểm, được sử dụng đúng mục tiêu và tạo ra kết quả tương xứng hay không. Những điểm nghẽn nào đang khiến vốn, tài sản và cơ hội phát triển chưa được chuyển hóa thành giá trị? Trách nhiệm nằm ở khâu hoạch định chính sách, phân bổ nguồn lực hay tổ chức thực hiện? Làm rõ những vấn đề này không chỉ giúp nhận diện nguy cơ thất thoát, lãng phí, mà còn tạo cơ sở điều chỉnh cơ chế phân bổ, nâng cao trách nhiệm giải trình và cải thiện hiệu quả sử dụng nguồn lực công.
Mục tiêu tăng trưởng cao chỉ có ý nghĩa khi được tạo ra bằng năng lực sản xuất lớn hơn, năng suất cao hơn, thị trường mở rộng và hiệu quả sử dụng vốn được cải thiện. Vì vậy, quý IV không chỉ là cuộc chạy nước rút để hoàn thành chỉ tiêu GDP, mà còn là phép thử đối với năng lực khơi thông nguồn lực và tổ chức thực thi chính sách./.
Tin liên quan
Có thể bạn quan tâm
Hơn 2,5 triệu mã số thuế tồn đọng chờ cơ chế tháo gỡ
(BKTO) - Tính đến ngày 23/10/2026, cả nước có 2.518.440 người nộp thuế ở trạng thái ngừng hoạt động nhưng chưa chấm dứt hiệu lực mã số thuế và trạng thái bỏ địa