aa
◐

Kiểm soát nguồn cung thuốc lá

HÀ THANH |

(BKTO) - Theo các đại biểu Quốc hội, phòng, chống tác hại của thuốc lá phải được thực hiện đồng thời bằng hai nhóm giải pháp: giảm nhu cầu sử dụng và kiểm soát nguồn cung.

 

Đại biểu Trương Hồ Hải phát biểu thảo luận tại Tổ về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá. Ảnh: VPQH

Hướng đến kiểm soát tổng năng lực sản xuất và sản lượng thực tế

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại thuốc lá trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 2 gồm 3 điều để sửa đổi, bổ sung 12 điều của Luật hiện hành.

Trong đó, Dự thảo Luật đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định để cụ thể hóa các quy định về cấm thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng tại Nghị quyết số 173/2024/QH15 ngày 30/11/2024 của Quốc hội và một số nội dung để tăng cường phòng, chống tác hại của thuốc lá.

Đồng thời, sửa đổi, bổ sung một số quy định để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh.

Trong đó, Dự thảo sửa đổi, bổ sung quy định về “kiểm soát sản lượng thuốc lá tiêu thụ trong nước” để các doanh nghiệp sản xuất thuốc lá trong phạm vi được phép, chủ động trong việc xây dựng chiến lược, kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư trong dài hạn; bãi bỏ điều kiện kinh doanh đối với lĩnh vực “cai nghiện thuốc lá” để tăng sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động cai nghiện thuốc lá và thay thế bằng biện pháp quản lý bằng tiêu chuẩn, quy chuẩn hoặc hướng dẫn chuyên môn do Bộ Y tế ban hành.

Góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật, các đại biểu Quốc hội (ĐBQH) tán thành về sự cần thiết ban hành Luật, nhằm hoàn thiện khung pháp lý về phòng, chống tác hại của thuốc lá, bảo đảm thể chế hóa đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng, thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật và phù hợp với thực tiễn.

Đặc biệt, nhiều đại biểu nhấn mạnh, việc giảm thiểu, kiểm soát và phòng, chống tác hại của thuốc lá cần đặt ra toàn diện. Các cơ chế, chính sách cần được thiết kế tổng thể các biện pháp đối với cả bên cung và bên cầu, kèm theo đó là những giải pháp hỗ trợ như: tuyên truyền về tác hại phòng, chống tác hại của thuốc lá; cưỡng chế thực thi pháp luật; xử phạt vi phạm đối với những hành vi vi phạm pháp luật…

Nhấn mạnh vấn đề kiểm soát năng lực sản xuất và nguồn cung thuốc lá, đại biểu Trương Hồ Hải (Đoàn ĐBQH tỉnh An Giang), đề nghị Cơ quan soạn thảo cân nhắc giữ quy định về quản lý năng lực máy, thiết bị chuyên ngành thuốc lá và tiếp tục quản lý giấy cuốn điếu thuốc lá.

Theo đại biểu, phòng, chống tác hại của thuốc lá phải được thực hiện đồng thời bằng hai nhóm giải pháp: giảm nhu cầu sử dụng và kiểm soát nguồn cung. Nếu chỉ chú trọng giảm nhu cầu mà không kiểm soát năng lực sản xuất, sản lượng thuốc lá đưa ra thị trường vẫn có thể gia tăng.

Vì vậy, kiểm soát nguồn cung không thể chỉ dừng ở việc quản lý từng máy móc, thiết bị riêng lẻ mà phải hướng đến kiểm soát tổng năng lực sản xuất, công suất dây chuyền và sản lượng thực tế.

“Quản lý máy móc là công cụ; kiểm soát năng lực sản xuất và sản lượng mới là mục tiêu. Nếu chỉ quản lý việc đầu tư, nhập khẩu hoặc sử dụng từng thiết bị mà không kiểm soát tổng công suất, việc thay thế máy móc, nâng cấp dây chuyền hoặc tổ chức lại sản xuất vẫn có thể làm gia tăng sản lượng”, đại biểu cho biết.

Đối với giấy cuốn điếu thuốc lá, đại biểu Trương Hồ Hải cho rằng, đây là đầu vào trực tiếp của quá trình sản xuất thuốc lá điếu. Việc quản lý loại nguyên liệu này giúp cơ quan nhà nước theo dõi, đối chiếu lượng đầu vào với năng lực sản xuất và sản lượng thành phẩm; đồng thời hỗ trợ truy xuất chuỗi cung ứng, phát hiện dấu hiệu sản xuất vượt mức hoặc không được kiểm soát.

Bảo đảm mục tiêu từng bước giảm nguồn cung cấp thuốc lá

Đại biểu Trương Hồ Hải cũng đề nghị hoàn thiện khái niệm “nguyên liệu thuốc lá” tại điểm b khoản 3 Điều 2 của Dự thảo Luật.

Theo đó, cần nghiên cứu bổ sung rõ nhóm chất không chứa nicotine được sản xuất hoặc sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng và các dạng thuốc lá khác thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật.

Theo đại biểu, nếu khái niệm nguyên liệu thuốc lá chỉ bao quát các chất có chứa nicotine thì có thể phát sinh khoảng trống pháp lý đối với sản phẩm thuốc lá điện tử không chứa nicotine. Trong khi đó, khái niệm nguyên liệu lại liên quan trực tiếp đến việc xác định phạm vi sản phẩm thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật.

“Định nghĩa nguyên liệu quá hẹp có thể dẫn đến phạm vi điều chỉnh của Luật không bao quát đầy đủ các sản phẩm cần quản lý” - đại biểu nói.

Đại biểu Phạm Hùng Thắng phát biểu thảo luận tại Tổ về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá. Ảnh: VPQH

Cùng đề cập đến vấn đề kiểm soát nguồn cung thuốc lá, đại biểu Phạm Hùng Thắng (Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình) chỉ ra, khoản 7 Điều 1 sửa đổi khoản 2 Điều 22 về kiểm soát sản lượng thuốc lá tiêu thụ trong nước, Dự thảo quy định: Bộ trưởng Bộ Công Thương công bố công khai sản lượng được phép sản xuất và nhập khẩu thuốc lá của từng doanh nghiệp phù hợp với nhu cầu của thị trường.

Đại biểu đề nghị Cơ quan soạn thảo cần nghiên cứu và điều chỉnh căn cứ “phù hợp với nhu cầu của thị trường”  để tính sản lượng được phép sản xuất và nhập khẩu thuốc lá của từng doanh nghiệp này.

Theo phân tích của đại biểu, thuốc lá không phải hàng hóa thông thường mà là sản phẩm gây hại cho sức khỏe, được Nhà nước kiểm soát chặt chẽ. Khoản 3 Điều 4 của Luật hiện hành đã xác định mục tiêu từng bước giảm nguồn cung cấp thuốc lá. Do đó, căn cứ dựa vào nhu cầu thị trường, thì quy định mới có thể bị hiểu là ưu tiên đáp ứng tiêu dùng thay vì chủ động kiểm soát và giảm nguồn cung. Đây là vấn đề nhất quán về định hướng chính sách, không chỉ là kỹ thuật câu chữ.

Đại biểu đề nghị nghiên cứu sửa khoản 2 Điều 22 theo hướng: “Bộ trưởng Bộ Công Thương công bố công khai sản lượng được phép sản xuất và nhập khẩu thuốc lá để tiêu thụ trong nước của từng doanh nghiệp trên cơ sở bảo đảm mục tiêu từng bước giảm nguồn cung cấp thuốc lá, phù hợp với yêu cầu bảo vệ sức khỏe nhân dân và chính sách quản lý, kiểm soát thuốc lá của Nhà nước.”

Đồng thời, Luật cần giao Chính phủ quy định phương pháp xác định sản lượng, lộ trình và cơ chế giám sát phù hợp, bảo đảm chính sách có thể thực thi và kiểm tra được.