Năm đầu thực hiện Chương trình MTQG 2026 - 2035: Thông suốt cơ chế, đồng bộ hành động
(BKTO) - Gần 423.000 tỷ đồng vốn nhà nước dành riêng cho 5 năm đầu đã đưa chương trình gộp ba mục tiêu nông thôn mới, giảm nghèo và phát triển vùng dân tộc thiểu số, miền núi vào nhóm có quy mô đầu tư lớn nhất từ trước tới nay ở khu vực nông thôn. Bước vào năm 2026 - năm đầu của giai đoạn I, điều được đặt lên trước tiên không phải tốc độ xây dựng mà là sự đồng bộ của chính sách và tính thống nhất trong hành động.

Gộp ba đầu mối về một
Cuối năm 2025 (ngày 11/12), Quốc hội khóa XV biểu quyết thông qua Nghị quyết số 257/2025/QH15, quyết định chủ trương đầu tư chương trình MTQG giai đoạn 2026 - 2035 với ba trụ cột: xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (sau đây gọi là Chương trình). Như vậy, ba chương trình từng vận hành độc lập trong 5 năm trước lần đầu được gom vào một khung chung.
Lựa chọn này có lý do từ thực tiễn. Giai đoạn 2021 - 2025, cùng một xã, cùng một nhóm hộ nhưng địa phương phải theo ba bộ hướng dẫn, ba hệ thống định mức và làm việc với ba cơ quan đầu mối khác nhau. Nguồn lực vì thế bị xé nhỏ, nhiều nội dung chồng lấn, còn tiến độ giải ngân - đặc biệt với vốn sự nghiệp - thường xuyên chậm.
Tuy vậy, 5 năm qua cũng tạo ra bệ phóng đáng kể. Hộ nghèo đa chiều chỉ còn 1,3% vào năm 2025, so với 4,4% năm 2021. Với nhóm hộ dân tộc thiểu số, tỷ lệ nghèo giảm gần một nửa, từ 25,91% còn 12,55%, tức mỗi năm bình quân giảm 4,45%, cao hơn chỉ tiêu được giao. Tính tới ngày 30/6/2025, 6.084 trong tổng số 7.669 xã (79,3%) đã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.
Để cụ thể hóa Nghị quyết 257, Chính phủ ban hành Nghị định số 358/2025/NĐ-CP về cơ chế quản lý, tổ chức thực hiện các chương trình MTQG; tiếp đó, ngày 31/01/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phê duyệt giai đoạn I (2026 - 2030) tại Quyết định số 417/QĐ-BNNMT.
Bước hợp nhất thứ hai diễn ra ngày 24/8/2026. Với 477/478 đại biểu có mặt biểu quyết tán thành, Quốc hội khóa XVI thông qua Nghị quyết số 46/2026/QH16, gộp Chương trình với ba chương trình MTQG khác về văn hóa; giáo dục - đào tạo; y tế, dân số. Tên gọi mới là Chương trình MTQG phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035. Điều kiện đi kèm: mục tiêu, nhóm đối tượng hưởng lợi và thứ tự ưu tiên đã quyết định trước đó được giữ nguyên, các việc đang làm dở không bị ngắt quãng.
Chỉ tiêu cao hơn, chuẩn nghèo khắt khe hơn
Định hướng chung là hướng tới những làng quê hiện đại, giàu đẹp, giữ được bản sắc và phát triển bền vững, đồng thời đưa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phát triển toàn diện.
Các con số trong Nghị quyết 257 làm rõ tham vọng ấy. Mốc 2030: thu nhập bình quân của cư dân nông thôn cao gấp 2,5 - 3 lần năm 2020; thu nhập của đồng bào dân tộc thiểu số bằng 1/2 mức chung của cả nước; tỷ lệ nghèo đa chiều toàn quốc mỗi năm giảm thêm 1 - 1,5%. Riêng vùng dân tộc thiểu số và miền núi, hộ nghèo đa chiều phải xuống dưới 10%, các xã, thôn đặc biệt khó khăn về cơ bản được xóa bỏ. Với nông thôn mới, khoảng 65% số xã đạt chuẩn (10% đạt mức hiện đại) và 5 tỉnh, thành phố được công nhận hoàn thành nhiệm vụ. Sang năm 2035, thu nhập bình quân ở nông thôn tăng thêm tối thiểu 1,6 lần so với mốc 2030.
Cần lưu ý, ngưỡng nghèo đã được điều chỉnh tăng. Ở khu vực nông thôn, hộ có thu nhập bình quân không quá 1,9 triệu đồng/người/tháng được xếp vào diện nghèo, cao hơn 400.000 đồng so với ngưỡng 1,5 triệu đồng của giai đoạn trước. Chuẩn cao hơn đồng nghĩa với việc giữ được nhịp giảm 1 - 1,5% mỗi năm sẽ khó khăn hơn đáng kể.

Hai hợp phần, mỗi nơi một việc
Quyết định 417/QĐ-BNNMT chia Chương trình thành hai hợp phần.
Hợp phần I áp dụng trên toàn quốc, do Bộ Nông nghiệp và Môi trường làm cơ quan chủ quản, gồm 10 nội dung thành phần với 52 nội dung cụ thể, trải rộng từ quy hoạch, kết cấu hạ tầng, phát triển kinh tế nông thôn, đào tạo nhân lực, trợ giúp pháp lý, bảo vệ môi trường cho tới truyền thông, theo dõi và đánh giá.
Hợp phần II dành riêng cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, do Bộ Dân tộc và Tôn giáo phụ trách, gồm 5 nội dung thành phần, 23 nội dung cụ thể. Trọng tâm là hạ tầng mang tính đặc thù, sinh kế, nhân lực, chính sách cho những dân tộc còn nhiều khó khăn, cùng với truyền thông và chuyển đổi số. Hợp phần này có chỉ tiêu riêng: 8/10 hộ nông dân dân tộc thiểu số chuyển sang sản xuất nông, lâm nghiệp hàng hóa và 4/10 lao động dân tộc thiểu số có kỹ năng làm việc ngoài nông nghiệp.
Cơ chế vận hành dựa trên phân quyền mạnh: địa phương tự quyết, tự làm và tự chịu trách nhiệm. Thủ tướng giao tổng mức vốn; HĐND tỉnh quyết định việc phân bổ chi tiết hoặc giao lại cho cấp xã. Một yêu cầu bắt buộc là nguồn hỗ trợ không được chồng lên nhau, cả giữa hai hợp phần lẫn với các chương trình khác. Mức hỗ trợ cao nhất dành cho đồng bào dân tộc thiểu số và các xã, thôn đặc biệt khó khăn; những hộ vừa thoát nghèo vẫn được ưu tiên thêm 36 tháng để tránh quay lại diện nghèo.
Hợp phần I: Truyền thông phải đi cả hai chiều
Giữa 52 nội dung cụ thể của Hợp phần I, có một nội dung không làm ra con đường hay mô hình sản xuất nào, nhưng lại quyết định đồng vốn có đến đúng chỗ, đúng đối tượng hay không: Nội dung 03 của Nội dung thành phần 10 về đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả truyền thông về Chương trình. Nội dung này do Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì cùng Bộ Dân tộc và Tôn giáo triển khai, hướng dẫn cụ thể tại Thông tư số 23/2026/TT-BNNMT.
Các yêu cầu được lượng hóa rõ trong Quyết định 417. Mỗi năm, toàn bộ cán bộ cấp tỉnh và 95% cán bộ cấp xã phải được bồi dưỡng tối thiểu một chuyên đề. Tất cả trưởng thôn, thành viên Ban Phát triển thôn và Ban Giám sát cộng đồng đều được tập huấn kỹ năng giám sát đầu tư, vận động nhân dân. Hoạt động truyền thông được yêu cầu chuyên nghiệp, hiện đại, triển khai trên nhiều nền tảng và có tương tác hai chiều.
Tương tác hai chiều có nghĩa thông tin không chỉ đi từ cơ quan ban hành xuống cơ sở, mà vướng mắc, đề xuất của người dân cũng phải được chuyển ngược lên. Qua kênh này, những lệch lạc như hướng dẫn ban hành chậm, vốn chia nhỏ, dàn trải hay huy động vượt khả năng đóng góp của dân có thể được nhận diện từ sớm.
Theo Quyết định số 3282/QĐ-BNNMT, thông điệp tuyên truyền xuyên suốt năm 2026 là “Đồng bộ chính sách - Thống nhất hành động”. Năm đầu tiên chưa phải lúc tổng kết thành tích; việc cần làm là giải thích cho rõ cơ chế, phân định trách nhiệm của từng cấp và khẳng định người dân là chủ thể. Nội dung tuyên truyền xoay quanh ba mảng: với nông thôn mới là sản phẩm OCOP, làng nghề, du lịch nông thôn và công khai việc phân bổ vốn; với giảm nghèo là các mô hình sinh kế, tạo việc làm và nguyên tắc không bắt buộc dân đóng góp; với vùng dân tộc thiểu số là rút ngắn chênh lệch phát triển, bảo tồn bản sắc văn hóa và phát huy tiếng nói của người có uy tín.
Hợp phần II: Để đồng bào biết dùng pháp luật bảo vệ mình
Hợp phần I lo việc làm cho người dân hiểu chính sách; còn Nội dung 02 trong Nội dung thành phần 05 của Hợp phần II hướng tới việc trang bị cho đồng bào công cụ pháp lý để tự bảo vệ quyền lợi. Phạm vi gồm: tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và vận động đồng bào vùng dân tộc thiểu số, miền núi; mở rộng khả năng tiếp cận trợ giúp pháp lý, hòa giải cơ sở, các biện pháp bảo đảm và việc đăng ký biện pháp bảo đảm, cũng như trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Bộ Dân tộc và Tôn giáo giữ vai trò chủ trì, phối hợp cùng Bộ Tư pháp và Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, thực hiện theo Thông tư số 02/2026/TT-BDTTG.
Đích đến là người dân vùng dân tộc thiểu số được tiếp cận công lý bình đẳng như mọi công dân; khi phát sinh tranh chấp, họ có thể nhanh chóng nhận được sự trợ giúp pháp lý đúng chuẩn.
Ở vùng cao, rào cản với pháp luật không chỉ là đường sá xa xôi hay khác biệt ngôn ngữ. Không ít vụ tranh chấp đất đai, nợ nần, mâu thuẫn hôn nhân bắt nguồn đơn giản từ việc người dân không nắm được mình có quyền gì, phải làm gì. Hộ muốn đem tài sản đi thế chấp để vay vốn chăn nuôi phải biết thủ tục đăng ký biện pháp bảo đảm. Gia đình chịu thiệt vì một quyết định hành chính trái luật phải biết rằng Nhà nước có trách nhiệm bồi thường. Bởi thế, phổ biến pháp luật trong Hợp phần II được gắn trực tiếp với chuyện làm ăn, sinh kế.

Phổ biến pháp luật chung cho cả nước thuộc Hợp phần I và do Bộ Tư pháp chủ trì; Hợp phần II thì chỉ hướng vào vùng dân tộc thiểu số, với cách làm riêng là dựa vào già làng, trưởng bản, người có uy tín và chức sắc tôn giáo để vận động. Nội dung ưu tiên gồm Hiến pháp, chính sách dân tộc, quyền và nghĩa vụ công dân, cùng những lĩnh vực gắn với đời sống hằng ngày như đất đai, nhà ở, hôn nhân - gia đình, lao động và môi trường.
Đây cũng là nội dung chiếm phần lớn khối lượng tin, bài mà Báo Kiểm toán thực hiện trong năm 2026.
Năm đầu, hai áp lực cùng lúc
Năm 2026, các địa phương phải chạy song song hai việc: khởi động chương trình mới và hoàn tất những phần việc còn dở của giai đoạn trước. Theo Nghị quyết số 265/2025/QH15, vốn năm 2025 của ba chương trình cũ được phép giải ngân đến hết ngày 31/12/2026.
Thực tế cho thấy sức ép không nhỏ. Ở Tuyên Quang, tính đến giữa tháng 6/2026, trong hơn 2.265 tỷ đồng vốn được kéo dài, tỉnh mới giải ngân được hơn 452 tỷ đồng, tức khoảng 20%. Riêng khâu đối chiếu số liệu với Kho bạc đã kéo dài tới 31/3/2026, gần trọn một quý. Ở Quảng Trị, hết ngày 31/8/2026, tỷ lệ giải ngân vốn kéo dài mới đạt 27,7%; với vốn chi thường xuyên, con số này chỉ là 22,9%. Tỉnh này cũng phản ánh nguồn vốn được phân bổ chỉ bằng khoảng một nửa giai đoạn trước, trong khi bộ tiêu chí mới đòi hỏi mức đầu tư cao hơn.
Thủ tướng đã yêu cầu giải ngân toàn bộ vốn trung ương giao trong năm 2026, công khai tiến độ và xem xét trách nhiệm người đứng đầu ở những nơi để vốn ứ đọng vì nguyên nhân chủ quan. Ngay từ năm đầu, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội cũng đã tiến hành giám sát chuyên đề về việc thực hiện Chương trình (Nghị quyết số 158/NQ-HĐDT16).
Ngày 10/9/2026, Quyết định số 1757/QĐ-TTg được ban hành, bổ sung 192,251 tỷ đồng kinh phí thường xuyên năm 2026 cho Chương trình, chia cho 9 bộ, cơ quan trung ương (64,01 tỷ đồng) và 27 tỉnh, thành phố (128,241 tỷ đồng). Vì dự toán đến tay vào tháng 9, thời gian còn lại để triển khai chỉ khoảng ba tháng. Hiện Chính phủ đang hoàn thiện nghị định hướng dẫn Nghị quyết số 46/2026/QH16, theo hướng gói gọn trong một văn bản duy nhất để không xảy ra tình trạng cơ chế cũ và mới cùng tồn tại.
Người dân phải là chủ thể thực sự
Điểm khác biệt lớn nhất của Chương trình so với 5 năm trước nằm ở ba điểm: bớt đầu mối, trao quyền quyết định nhiều nhất có thể cho địa phương, và đặt chất lượng, độ bền vững lên trên số lượng. Tuy nhiên, các đổi mới ấy chỉ phát huy khi chính sách khớp nối với nhau và người dân thật sự vào cuộc.
Vì vậy, hai nội dung thoạt nhìn có vẻ “mềm” - truyền thông ở Hợp phần I và phổ biến pháp luật, trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Hợp phần II - lại có ý nghĩa then chốt. Hàng trăm nghìn tỷ đồng chỉ đến đúng nơi cần đến khi người dân nắm được chính sách, theo dõi được quá trình thực hiện và sẵn sàng phản ánh khi thấy điều bất thường.
Năm 2026, với thông điệp “Đồng bộ chính sách - Thống nhất hành động”, thành công không đo bằng bao nhiêu km đường được làm hay bao nhiêu hộ ra khỏi diện nghèo. Câu hỏi cần trả lời là: cơ chế đã vận hành trơn tru chưa, mỗi cấp đã rõ phần việc của mình chưa, và người dân ở những thôn, bản xa xôi nhất đã được thông tin, được góp ý, được cùng làm hay chưa.
Mười năm là chặng đường dài, song những bước đi đầu tiên sẽ quyết định hướng đi. Chương trình chỉ thực sự bám rễ vào đời sống khi chính sách được truyền đạt thông suốt từ Trung ương tới từng thôn, bản; khi từng đồng vốn được minh bạch tới mỗi người dân; và khi người dân bước ra khỏi vai trò người thụ hưởng để trở thành người làm chủ. Đó cũng là cách để không một ai bị bỏ lại phía sau.
Tin liên quan
Có thể bạn quan tâm
Phát huy vai trò tiên phong, trách nhiệm - Đoàn thanh niên Kiểm toán nhà nước chung tay đẩy lùi khói thuốc
(BKTO) - Tuổi trẻ Kiểm toán nhà nước (KTNN) quyết tâm hành động vì sức khỏe của bản thân, đồng nghiệp, gia đình và cộng đồng; cùng chung tay xây dựng môi trường