Ngân sách nhà nước: Từ kỷ luật thu - chi đến hiệu quả nguồn lực
(BKTO) - Ngân sách nhà nước không chỉ phản ánh năng lực huy động và phân phối nguồn lực tài chính, mà còn cho thấy Nhà nước lựa chọn ưu tiên phát triển như thế nào và chuyển hóa nguồn lực công thành giá trị thực tiễn ra sao. Báo cáo kiểm toán quyết toán ngân sách nhà nước năm 2025 cho thấy quy mô thu, chi tiếp tục ở mức lớn, song những vấn đề về cơ cấu chi, tính bền vững của nguồn thu và hiệu quả đầu tư vẫn đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy quản trị.

Kỷ luật thu – chi chưa phải là đích đến
Theo Báo cáo kiểm toán quyết toán ngân sách nhà nước năm 2025 được Tổng Kiểm toán nhà nước trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ Hai, tổng thu cân đối ngân sách nhà nước đạt 4.267.354 tỷ đồng; tổng chi cân đối ngân sách nhà nước là 4.560.931 tỷ đồng. Bội chi ngân sách nhà nước được xác định ở mức 400.163 tỷ đồng, tương đương 3,1% GDP.
Những con số này phản ánh quy mô nguồn lực tài chính công được huy động và sử dụng trong năm 2025. Nhưng đằng sau quy mô ấy là một yêu cầu lớn hơn: Ngân sách phải được tổ chức như thế nào để mỗi quyết định huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực đều hướng tới các mục tiêu phát triển, tạo ra kết quả tương xứng và hạn chế tối đa sự thất thoát, lãng phí?
Trong quản trị tài chính công, tuân thủ pháp luật về ngân sách là nguyên tắc nền tảng. Thu đúng, thu đủ, chi đúng dự toán, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức và bảo đảm cân đối ngân sách là những điều kiện không thể thiếu. Tuy nhiên, tuân thủ về thủ tục và hiệu quả về kết quả không phải lúc nào cũng đồng nhất. Một khoản chi có thể đầy đủ hồ sơ, đúng quy trình nhưng chưa chắc đã tạo ra giá trị tương xứng; một dự án được bố trí đủ vốn cũng chưa đồng nghĩa với việc mục tiêu đầu tư sẽ được hoàn thành đúng hạn và phát huy hiệu quả.
Cơ cấu chi ngân sách năm 2025 cho thấy vấn đề này cần được nhìn nhận nghiêm túc. Chi đầu tư phát triển chiếm 31,2% tổng chi ngân sách nhà nước, giảm 2,4 điểm phần trăm so với năm 2024; trong khi chi thường xuyên chiếm 64,3%, tăng 2,8 điểm phần trăm. Chi thường xuyên bảo đảm hoạt động của bộ máy, cung cấp dịch vụ công và thực hiện các chính sách an sinh xã hội. Trong khi đó, chi đầu tư phát triển tạo lập hạ tầng, bổ sung năng lực sản xuất và mở rộng dư địa tăng trưởng trong dài hạn.
Khi nhu cầu đầu tư hạ tầng, nâng cao năng suất và cải thiện chất lượng dịch vụ công ngày càng lớn, yêu cầu đặt ra không đơn thuần là tăng tỷ trọng chi đầu tư phát triển bằng mọi giá. Điều quan trọng là nâng cao chất lượng phân bổ, khắc phục tình trạng nguồn lực bị phân tán, bố trí không sát khả năng thực hiện hoặc kéo dài thời gian mà chưa tạo ra hiệu quả tương xứng.
Thực tiễn kiểm toán cho thấy những hạn chế trong lập, thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư và dự án; khảo sát, thiết kế, dự toán; đàm phán, ký kết hợp đồng xây dựng; quản lý chất lượng, nghiệm thu, thanh toán, quyết toán và tiến độ dự án. Những bất cập này có thể làm suy giảm hiệu quả đầu tư ngay từ trước khi đồng vốn ngân sách được đưa vào sử dụng.
Nguồn thu bền vững tạo dư địa cho phát triển
Nếu chất lượng chi quyết định mức độ chuyển hóa nguồn lực thành kết quả thì chất lượng nguồn thu quyết định nền tảng và dư địa tài khóa để duy trì những kết quả đó. Theo báo cáo kiểm toán, nguồn thu từ sản xuất, kinh doanh như thuế, phí chiếm khoảng 59% thu nội địa năm 2025, giảm 7,6 điểm phần trăm so với năm 2024. Trong khi đó, nhóm nguồn thu từ đất đai, tài nguyên, khoáng sản, xổ số kiến thiết, lợi nhuận còn lại, thoái vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp và một số khoản thu khác chiếm khoảng 40% thu nội địa.
Cơ cấu này đặt ra yêu cầu xem xét không chỉ quy mô thu ngân sách trong một năm, mà cả khả năng duy trì nguồn thu trong những năm tiếp theo. Các khoản thu từ đất đai, tài nguyên hoặc những giao dịch mang tính thời điểm có thể đóng góp đáng kể cho ngân sách, nhưng tính chất và khả năng lặp lại của chúng khác với nguồn thu hình thành từ hoạt động sản xuất, kinh doanh thường xuyên. Vì vậy, không thể mặc nhiên dựa vào những khoản thu có tính biến động để bảo đảm các nhiệm vụ chi có tính chất ổn định, dài hạn.
Nền tảng của tài chính công bền vững phải là một nền kinh tế có năng lực sản xuất, kinh doanh và tạo giá trị gia tăng ngày càng cao; cơ sở thuế được mở rộng trên cơ sở phát triển kinh tế thực chất; cùng với đó là hệ thống quản lý thu đủ năng lực bao quát các hoạt động kinh tế mới và hạn chế thất thu.
Yêu cầu này càng rõ nét trong bối cảnh phương thức kinh doanh thay đổi nhanh, các giao dịch xuyên biên giới và hoạt động trên nền tảng số ngày càng đa dạng. Nếu cơ chế quản lý thuế, hải quan, hóa đơn và dữ liệu chưa theo kịp thực tiễn, nguy cơ thất thu không chỉ ảnh hưởng đến số thu trước mắt mà còn làm suy giảm tính công bằng giữa các chủ thể thực hiện nghĩa vụ ngân sách.
Một chỉ dấu đáng chú ý là số nợ thuế do cơ quan quản lý thuế quản lý gần 245.500 tỷ đồng, tăng khoảng 20% so với năm 2024. Tuy nhiên, quy mô nợ thuế cần được phân tích sâu hơn theo tuổi nợ, nguyên nhân phát sinh, khả năng thu hồi và trách nhiệm quản lý để xác định chính xác mức độ rủi ro cũng như biện pháp xử lý phù hợp.
Kiểm toán thúc đẩy quản trị ngân sách theo kết quả
Khi nhu cầu nguồn lực cho phát triển ngày càng lớn, trong khi ngân sách luôn phải cân đối giữa nhiều mục tiêu và nhiệm vụ, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực cần trở thành nguyên tắc xuyên suốt từ lập dự toán, phân bổ, tổ chức thực hiện đến quyết toán. Đây cũng là yêu cầu chuyển từ quản lý chủ yếu dựa trên đầu vào và mức độ tuân thủ sang quản trị chú trọng kết quả đầu ra, hiệu quả thực chất và tác động của chính sách công.
Trước hết, lập dự toán phải gắn chặt hơn với mục tiêu và khả năng thực hiện. Việc bố trí ngân sách cần căn cứ vào mức độ ưu tiên, tính cấp thiết, điều kiện triển khai và hiệu quả dự kiến của từng nhiệm vụ, chương trình, dự án. Đối với đầu tư công, tính sẵn sàng của dự án, khả năng hấp thụ vốn và mức độ kết nối với các mục tiêu phát triển cần được xem xét ngay từ đầu trước khi bố trí vốn, hạn chế tình trạng phân bổ dàn trải, điều chỉnh nhiều lần hoặc kéo dài mà không tạo ra kết quả tương xứng.
Tiếp đó, tổ chức thực hiện ngân sách cần được giám sát trên cơ sở dữ liệu cập nhật và có khả năng đối chiếu giữa kế hoạch, tiến độ, khối lượng hoàn thành, giá trị thanh toán và kết quả đạt được. Khi thông tin được kết nối xuyên suốt, cơ quan quản lý có thể phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường, nhận diện điểm nghẽn và xử lý kịp thời thay vì chờ đến khi kết thúc năm ngân sách mới tổng hợp, đánh giá.
Đối với Kiểm toán nhà nước, yêu cầu đổi mới này đặt ra nhiệm vụ nâng cao chất lượng kiểm toán trên cả phương diện tuân thủ và đánh giá hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn lực công. Một phát hiện kiểm toán có giá trị không chỉ ở số tiền được kiến nghị xử lý hay thu hồi, mà còn ở khả năng làm rõ vì sao sai sót xảy ra, khâu nào chưa được kiểm soát, trách nhiệm thuộc về đâu và cần điều chỉnh cơ chế nào để hạn chế tái diễn. Từ đó, kiến nghị kiểm toán có thể đóng góp trực tiếp hơn vào việc hoàn thiện chính sách, nâng cao chất lượng quản lý và sử dụng ngân sách.
Đặc biệt, kết quả kiểm toán cần được kết nối chặt chẽ hơn với việc theo dõi thực hiện kiến nghị và quá trình xây dựng, phân bổ ngân sách ở các kỳ tiếp theo. Qua đó, kiểm toán không chỉ góp phần chấn chỉnh những sai sót đã phát sinh mà còn hỗ trợ phòng ngừa rủi ro và cải thiện chất lượng quyết định quản lý trong tương lai./.
Tin liên quan
Có thể bạn quan tâm
Khẩn trương hoàn thiện thủ tục triển khai hai dự án học viện của Bộ Công an
(BKTO) - Sở Xây dựng tỉnh Hưng Yên có trách nhiệm phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng kế hoạch, tiến độ cụ thể, xác định rõ khó khăn, vướng mắc và đề