Nghị quyết 20-NQ/TW: Mở không gian phát triển mới cho hàng hải Việt Nam
(BKTO) - Công nghiệp hàng hải là nền tảng quan trọng để phát triển kinh tế biển và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Theo ông Lê Quang Trung - Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (VIMC), Nghị quyết số 20-NQ/TW với những định hướng, giải pháp đột phá đang mở ra cơ hội khơi thông các điểm nghẽn về hạ tầng, công nghệ, chính sách và nguồn nhân lực, tạo động lực phát triển hệ sinh thái hàng hải Việt Nam.
Ông đánh giá thế nào về hệ thống cảng biển và tiềm năng phát triển ngành hàng hải nói chung, thưa ông?
Trước hết, phải khẳng định Việt Nam có điều kiện địa lý hết sức thuận lợi để phát triển mạnh các ngành kinh tế biển, khi nằm gần các tuyến hàng hải lớn nhất toàn cầu, kết nối châu Á với châu Âu và Trung Đông. Hệ thống cảng biển Việt Nam không ngừng được nâng cao về năng lực và chất lượng dịch vụ. Sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển ngày một lớn đã minh chứng cho hiệu quả khai thác ngành hàng hải nói riêng, kinh tế biển nói chung dựa trên các thế mạnh của vùng biển.
Năm 2025, tổng khối lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển và cảng thủy nội địa Việt Nam ước đạt khoảng 1,17 tỷ tấn, trong đó riêng sản lượng thông qua cảng biển đạt hơn 960 triệu tấn. Việt Nam hiện có 3 cảng nằm trong danh sách 50 cảng container có sản lượng thông qua lớn nhất thế giới là TP. Hồ Chí Minh, Cái Mép và Hải Phòng; là đầu mối phục vụ xuất - nhập khẩu hàng hóa, đóng góp không nhỏ vào sự tăng trưởng của nền kinh tế.

Tuy vậy, những kết quả trên vẫn khiêm tốn so với tiềm năng của cảng biển Việt Nam. Sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển hiện mới chỉ chiếm hơn 10%, đa số hàng hóa vẫn thông qua đường bộ. Nhiều cảng của Việt Nam lớn nhưng chưa đủ để phát triển công nghiệp hàng hải. Bởi đây mới chỉ là điểm khởi đầu, cần phát triển hệ sinh thái phía sau cảng, từ logistics, công nghiệp đến các dịch vụ giá trị gia tăng.
Nghị quyết 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh được ban hành với tầm nhìn, mục tiêu chiến lược đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, giàu từ biển; trong đó đề ra giải pháp phát triển hệ thống cảng biển nước sâu, logistics và đội tàu vận tải biển quốc tế nhằm kết nối Việt Nam vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Đây là những yếu tố nền tảng, mang đến kỳ vọng khắc phục những điểm nghẽn bấy lâu của ngành công nghiệp hàng hải, hướng đến mục tiêu phát triển mạnh các ngành kinh tế biển.
Nghị quyết 20-NQ/TW xác định mục tiêu đến năm 2030 tổng GRDP của các tỉnh, thành phố ven biển đóng góp trên 70% GDP cả nước; tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân của các địa phương ven biển phấn đấu trên 11%/năm. Thị phần vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu do đội tàu biển Việt Nam đảm nhận đạt 20%; chi phí logistics giảm còn dưới 12% GDP.
Như ông đã nêu, Nghị quyết đặt tầm nhìn xa trong việc phát triển Việt Nam là một quốc gia biển mạnh, trong đó có kinh tế hàng hải. Theo ông, những nhiệm vụ trọng tâm cần thực hiện để đạt được mục tiêu đó là gì?
Trước hết, vấn đề hạ tầng trong hàng hải, vận tải là yếu tố hết sức quan trọng và hiện đang là “nút thắt” trong phát triển kinh tế biển. Bởi hiện nay, các tiêu chí, tiêu chuẩn vận tải đã được nâng lên một tầm cao mới, nên những tiêu chuẩn trước đây và hiện trạng hạ tầng biển nay không còn phù hợp.
Ví dụ, sức chứa của tàu trước đây 2.000 TEU đã là lớn, nhưng giờ sức chứa tàu lên tới 24.000 TEU, tức là gấp 10 lần. Điều này đòi hỏi luồng lạch phải sâu, rộng hơn, trang bị cẩu giàn cỡ lớn, mở rộng diện tích bãi chứa và tối ưu hóa kết nối giao thông đa phương thức…
Thứ hai, cần sự tham gia mạnh mẽ của khoa học, công nghệ gắn với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh trong lĩnh vực hàng hải. Đây cũng là định hướng phát triển kinh tế biển xanh, cảng xanh, cảng thông minh và chuyển đổi số được đề ra trong Nghị quyết 20-NQ/TW.
Thực hiện tốt nhiệm vụ này sẽ tạo động lực để ngành công nghiệp hàng hải phát triển, tạo sự chuyển biến mạnh về năng suất và chất lượng dịch vụ. Điều này cũng phù hợp với mục tiêu chiến lược quốc gia nhằm chuyển đổi mô hình kinh tế sang hướng tăng trưởng xanh, giảm phát thải và ứng phó với biến đổi khí hậu; qua đó góp phần thực hiện cam kết đạt mức phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 của Việt Nam với quốc tế.
Thứ ba, đó là vấn đề chính sách. Chính sách bao gồm các vấn đề liên quan đến hải quan, hỗ trợ tài chính, tín dụng ưu đãi. Cần có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nước ưu tiên sử dụng đội tàu biển Việt Nam; cơ chế đào tạo, thu hút nhân lực chất lượng cao để tham gia mô hình logistics mới…
Đặc biệt, cần quan tâm đến chính sách về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực hàng hải.

Từ góc độ là doanh nghiệp nhà nước tham gia và đóng góp lớn vào kinh tế hàng hải, ông đánh giá ra sao về vai trò và sự tham gia của Kiểm toán nhà nước trong việc đưa Nghị quyết vào cuộc sống?
Vai trò của cơ quan Kiểm toán nhà nước (KTNN), thanh tra rất quan trọng. Những vấn đề được chỉ ra qua kiểm toán là những lưu ý để doanh nghiệp trong quá trình triển khai làm đúng, làm chuẩn, đáp ứng các chuẩn mực về kế toán, tài chính cũng như bảo đảm các quy định pháp luật có liên quan.
Là doanh nghiệp nhà nước chủ lực của ngành hàng hải, VIMC thường xuyên phối hợp trao đổi, nắm bắt, cũng như thực hiện nghiêm túc các kết luận, kiến nghị kiểm toán.
Tôi cho rằng KTNN đóng vai trò rất quan trọng để đưa Nghị quyết 20-NQ/TW vào cuộc sống. Bởi trên cơ sở chủ trương, định hướng từ Nghị quyết sẽ có những chính sách, quy định cụ thể được ban hành để áp dụng vào thực tiễn. Trong quá trình triển khai chính sách, qua kiểm toán, KTNN sẽ kịp thời chỉ ra hạn chế trong thực hiện, cũng như kiến nghị sửa đổi những quy định còn bất cập.
Về kiến nghị, chúng tôi cũng mong muốn, đối với ngành hàng hải hay vận tải biển - một ngành mang tính chất thời vụ - khi kiểm toán, đơn vị cần xem xét đến tính chu kỳ, thời vụ để có đánh giá phù hợp, tạo điều kiện hỗ trợ, thúc đẩy ngành phát triển.
Đối với vận tải và hàng hải, đặc biệt trong kinh tế biển, sự kết nối và tích hợp chuỗi là cực kỳ quan trọng. Mà trong tích hợp chuỗi, không phải công đoạn nào cũng có lãi, quan trọng là tổng thể lợi ích phải phát triển.
Đây là điều mà chúng tôi, cũng như nhiều doanh nghiệp vận tải muốn kiến nghị các cơ quan kiểm toán, kế toán, thuế xem xét và có những chính sách phù hợp, linh hoạt với điều kiện, tình hình mới theo tinh thần Nghị quyết 20-NQ/TW, đó là qua kiểm soát để nâng cao hiệu quả, đồng hành với doanh nghiệp./.
Xin trân trọng cảm ơn ông!./.
Tin liên quan
Có thể bạn quan tâm
Sức mạnh của các Tập đoàn đầu tư chiến lược Việt Nam: Từ tích lũy nguồn lực đến bứt phá
(BKTO) - Tổng quy mô tài sản của Top 30 Tập đoàn Đầu tư chiến lược Việt Nam năm 2026 (ALPHA30) lên tới 4,29 triệu tỷ đồng và doanh thu khoảng 1,73 triệu tỷ đồng