aa
◐

Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa: Bảo đảm hỗ trợ thực chất, minh bạch

N. HỒNG |

(BKTO) - Đánh giá cao bước chuyển tư duy từ “hỗ trợ” sang “phát triển” doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), các đại biểu Quốc hội đề nghị tiếp tục rà soát để bảo đảm các chính sách ưu đãi đúng đối tượng, đúng nhu cầu và phù hợp khả năng cân đối nguồn lực. Cùng với chính sách thuế, cơ chế hỗ trợ mặt bằng sản xuất, tiền thuê đất cần được thiết kế minh bạch, có thể kiểm tra, kiểm toán để nguồn lực thực sự đến với doanh nghiệp.

Các đại biểu tham dự Hội nghị. Ảnh: VPQH

Cân nhắc kỹ quy định miễn thuế 3 năm đối với toàn bộ doanh nghiệp nhỏ và vừa mới thành lập

Sáng 28/9, tại Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách lần thứ nhất, khóa XVI, các đại biểu đã cho ý kiến về Dự thảo Luật Phát triển DNNVV.

Qua thảo luận, các đại biểu nhất trí với sự cần thiết sửa đổi toàn diện Luật Hỗ trợ DNNVV và chuyển thành Luật Phát triển DNNVV, thể hiện rõ hơn quan điểm ưu tiên và quan tâm phát triển lực lượng DN này, nhằm đóng góp hiệu quả hơn cho sự phát triển của đất nước.

Đại biểu Trần Văn Lâm (Đoàn Bắc Ninh) nhận xét, Dự thảo đã thể hiện nhiều đổi mới tích cực, hỗ trợ theo nhu cầu và kết quả, đa dạng hóa nguồn vốn, tăng khả năng tiếp cận thị trường, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, tạo điều kiện cho hộ kinh doanh chuyển thành DN.

Đặc biệt, theo đại biểu, việc bổ sung phiếu hỗ trợ (voucher) để DN chủ động lựa chọn dịch vụ sẽ giúp đơn giản hóa thủ tục và tăng khai thác dữ liệu số. Đây là hướng đi đúng đắn, phù hợp, thiết thực với DNNVV.

Góp ý cụ thể về chính sách thuế, kế toán, đại biểu Lâm nêu, khoản 2 Điều 9 quy định về chính sách miễn thuế thu nhập DN trong 3 năm kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký DN lần đầu. Theo đại biểu, thực tế những năm đầu DN phải đầu tư nhà xưởng, thiết bị, tuyển dụng, tìm thị trường nên thường chưa có lãi hoặc lãi rất thấp, thậm chí lỗ. Nếu thời gian miễn thuế tính từ ngày đăng ký, thời gian ưu đãi sẽ trôi qua trước khi DN phát sinh thuế phải nộp.

Để chính sách này đi vào thực tế, đại biểu Trần Văn Lâm đề nghị thời gian miễn thuế 3 năm nên tính từ năm đầu tiên DN có thu nhập chịu thuế (bắt đầu phát sinh thuế phải nộp).

Đại biểu Trần Văn Lâm phát biểu thảo luận. Ảnh: VPQH

Cùng quan tâm đến quy định này, đại biểu Nguyễn Văn Huy (Đoàn Hưng Yên) bày tỏ đồng tình với quan điểm cần sử dụng chính sách thuế như một công cụ để khuyến khích khởi nghiệp, đầu tư và phát triển DN. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị cân nhắc kỹ quy định này.

Đại biểu phân tích, nếu áp dụng đối tượng rộng đối với toàn bộ DNNVV mới thành lập, chính sách có thể tạo ra chi phí ngân sách lớn nhưng chưa chắc đã tương xứng với mức độ cần thiết của từng nhóm DN.

“Trong thực tế, nhu cầu hỗ trợ một DN khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp sản xuất tham gia chuỗi cung ứng, DN công nghệ cao rất khác với một DN hoạt động trong ngành kinh tế ngành nghề kinh doanh thông thường. Do đó, tôi đề nghị Cơ quan soạn thảo nghiên cứu theo hướng phân tầng chính sách thuế. Trong đó, ưu đãi cao hơn, dài hơn hoặc có điều kiện với những DN thuộc ngành, lĩnh vực ưu tiên, có hoạt động đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, sản xuất xanh, tham gia chuỗi giá trị và tạo nhiều việc làm hoặc có khả năng đóng góp lớn cho nền kinh tế” - đại biểu Huy nêu quan điểm.

Cần quy định rõ nguyên tắc, không để DN lợi dụng chính sách bằng cách chia, tách, thành lập DN mới hoặc chuyển hoạt động sang pháp nhân mới chỉ nhằm tiếp tục hưởng ưu đãi.

Đại biểu Trần Văn Huy

Đại biểu cũng đề nghị rà soát kỹ sự thống nhất giữa quy định về nội dung này tại Dự thảo Luật với pháp luật về thuế thu nhập DN và các luật chuyên ngành khác, nhất là nguyên tắc tránh trùng lặp ưu đãi để bảo đảm chính sách thuế vừa có tính khuyến khích, vừa bảo đảm công bằng giữa các DN và khả năng cân đối ngân sách nhà nước.

Ưu tiên cơ chế minh bạch, kiểm tra, kiểm toán và xác định rõ khoản hỗ trợ tiền thuê lại đất cho doanh nghiệp

Nhiều ý kiến tại Hội nghị cũng đề cập đến chính sách tiếp cận mặt bằng sản xuất tại Dự thảo Luật quy định, căn cứ điều kiện thực tế tại địa phương, UBND cấp tỉnh trình HĐND cùng cấp quyết định sử dụng ngân sách địa phương để đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp dành cho DNNVV, hỗ trợ chủ đầu tư hạ tầng; đồng thời, có cơ chế hỗ trợ tiền thuê lại đất và ưu tiên DNNVV tiếp cận nhà, đất là tài sản công chưa sử dụng hoặc không sử dụng tại địa phương. Dự thảo cũng yêu cầu địa phương công khai diện tích, diện tích mặt bằng còn trống và danh mục tài sản để DNNVV tiếp cận.

Đồng tình với hướng tiếp cận này, song đại biểu Nguyễn Văn Huy đề nghị làm rõ hơn cơ chế nguồn lực và trách nhiệm thực hiện.

Đại biểu Lã Thanh Tân phát biểu thảo luận. Ảnh: VPQH

Theo đó, khi quy định địa phương sử dụng ngân sách để đầu tư hạ tầng và hỗ trợ tiền thuê lại đất thì cần phải xác định rõ đây là quyền chủ động của địa phương hay là trách nhiệm phải thực hiện khi có đủ điều kiện. Đồng thời, phải có tiêu chí, điều kiện và nguyên tắc phân bổ nguồn lực để tránh tình trạng địa phương có nhu cầu rất lớn nhưng không có khả năng ngân sách.

Đối với khoản hỗ trợ tiền thuê lại đất, đại biểu Nguyễn Văn Huy đề nghị quy định chặt chẽ hơn để bảo đảm lợi ích hỗ trợ thực sự đến với DN, không làm tăng lợi ích chủ yếu cho chủ đầu tư hạ tầng.

Dự thảo đang thiết kế 2 hình thức là Nhà nước hoàn trả cho chủ đầu tư hoặc là cấp voucher cho DN để thanh toán phần chi phí được hỗ trợ. Theo đại biểu, cần ưu tiên cơ chế minh bạch, có thể kiểm tra, kiểm toán và xác định được DN cuối cùng thực sự nhận được bao nhiêu tiền hỗ trợ. Đồng thời, cần công khai giá thuê trước và sau hỗ trợ, đối tượng được hỗ trợ, thời gian hỗ trợ và kết quả sử dụng mặt bằng.

Theo đại biểu Lã Thanh Tân (Đoàn TP. Hải Phòng), Dự thảo đặt ra yêu cầu bố trí bình quân 20ha hoặc 5% diện tích khu công nghiệp, cụm công nghiệp cho DNNVV. Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Tài chính cũng nhận định cách hỗ trợ gián tiếp này có thể khiến DNNVV khó tiếp cận và đề nghị nghiên cứu mở rộng cơ chế voucher để DN có thể thụ hưởng trực tiếp.

Đồng tình với quan điểm này, đại biểu Lã Thanh Tân đề nghị nghiên cứu theo hướng Nhà nước hỗ trợ trực tiếp cho DN thay vì chủ yếu hỗ trợ qua chủ đầu tư hạ tầng. Đối với quy định 20 ha hoặc 5%, cần đánh giá thêm nhu cầu thực tế của từng địa phương, tránh trường hợp có chỉ tiêu đất nhưng không có DN có nhu cầu.

Đề cập đến cơ chế hoàn trả tiền thuê đất, đại biểu Lê Thanh Hoàn (Đoàn Thanh Hóa) đề nghị, thay vì cơ chế Nhà nước hoàn trả bằng tiền mặt cho chủ đầu tư hạ tầng, cần chuyển sang cơ chế khấu trừ nghĩa vụ, mà bản chất là giảm tiền thuê đất khi chủ đầu tư hạ tầng thực hiện chính sách của Nhà nước về giảm tối thiểu 30% tiền thuê lại đất trong 5 năm đầu cho DNNVV khi thuê đất tại khu công nghiệp. Chủ đầu tư hạ tầng giảm giá thuê cho DNNVV theo quyết định của UBND cấp tỉnh thì sẽ được Nhà nước khấu trừ trực tiếp vào tiền thuê đất hàng năm.

Nguyên tắc hỗ trợ cho DN là tạo điều kiện tối đa cho DN hoạt động sản xuất kinh doanh; hỗ trợ và khuyến khích các DN phát triển cả về quy mô cả về chất lượng; đồng thời bảo đảm hài hòa với quy mô ngân sách nhà nước. Chúng tôi xác định thúc đẩy DNNVV trưởng thành là một nhiệm vụ hết sức quan trọng để đạt được cái mục tiêu tăng trưởng hai chữ số - Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nêu rõ khi giải trình vấn đề đại biểu quan tâm tại Hội nghị.