aa
◐

Bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu - động lực phát triển mới của nền kinh tế

HỒNG NHUNG |

(BKTO) - Kết luận số 75-KL/TW xác định: Bảo vệ môi trường (BVMT) và ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) phải được đặt trong tổng thể tư duy, tầm nhìn mới; là nền tảng cho quá trình chuyển đổi xanh, nâng cao chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh và trở thành một động lực phát triển mới của nền kinh tế.

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc trình bày những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Kết luận số 75-KL/TW. Ảnh: chinhphu.vn

Sáng 29/7, tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc đã trình bày những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Kết luận số 75-KL/TW về BVMT và chủ động ứng phó với BĐKH trong thời kỳ mới.

Là trách nhiệm, nghĩa vụ của cả hệ thống chính trị

Phó Thủ tướng cho biết Kết luận số 75-KL/TW về BVMT và chủ động ứng phó với BĐKH trong thời kỳ mới đã kế thừa những chủ trương còn giá trị của Nghị quyết số 24-NQ/TW, đồng thời phát triển, bổ sung những chủ trương, quyết sách lớn với tư duy đột phá, tầm nhìn xa nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra trong giai đoạn phát triển mới.

Kết luận số 75-KL/TW xác định rõ, BVMT và ứng phó với BĐKH phải được đặt trong tổng thể tư duy, tầm nhìn mới; là nền tảng cho quá trình chuyển đổi xanh, nâng cao chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh và trở thành một động lực phát triển mới của nền kinh tế.

BVMT, ứng phó với BĐKH là trách nhiệm, nghĩa vụ của cả hệ thống chính trị, các tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư và mỗi người dân. 

Kết luận số 75 đặt mục tiêu đến năm 2030 là nâng cao năng lực chống chịu, thích ứng với BĐKH, thiên tai; bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, sinh kế của nhân dân. Các khu vực ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nhất là ô nhiễm tại đô thị, lưu vực sông, khu, cụm công nghiệp, làng nghề phải được tập trung xử lý, phục hồi.

Chất lượng môi trường sống của nhân dân được cải thiện thực chất; tình trạng suy giảm đa dạng sinh học được ngăn chặn, hướng tới cân bằng sinh thái. Các nguồn thải lớn được kiểm soát chặt chẽ; thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế carbon thấp, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an ninh môi trường và phát triển nhanh, bền vững.

Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam hướng tới có môi trường sống trong lành, hài hòa với thiên nhiên, phát triển bền vững; xây dựng hệ thống quản trị môi trường hiện đại, thích ứng hiệu quả với BĐKH; trong đó kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế carbon thấp trở thành phương thức phát triển chủ đạo.

Việt Nam trở thành quốc gia có trách nhiệm, vị thế và uy tín cao trong BVMT và ứng phó với BĐKH toàn cầu.

Cùng với các mục tiêu định tính, Kết luận xác định các chỉ tiêu chủ yếu giai đoạn 2026-2030, bao phủ toàn diện các lĩnh vực BVMT và ứng phó với BĐKH. Các chỉ tiêu tập trung vào những cam kết then chốt, như: bảo đảm mức chi tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho sự nghiệp BVMT; kiểm soát nghiêm ngặt các nguồn thải, trong đó quan trắc tự động 100% các nguồn nước, khí thải lớn và xử lý nước thải đạt quy chuẩn tại tất cả các cụm công nghiệp.

Các mục tiêu nâng cao chất lượng môi trường sống được lượng hóa cụ thể, như bảo đảm tối thiểu 80% số ngày có chất lượng không khí tốt và trung bình tại các đô thị đặc biệt; tỷ lệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt đạt 95% tại khu vực đô thị và 85% tại khu vực nông thôn.

Đồng thời, Kết luận đặt ra yêu cầu bảo tồn đa dạng sinh học, bảo đảm an toàn dân cư trước thiên tai, đẩy mạnh chuyển đổi xanh với tỷ trọng kinh tế xanh đạt 10% GDP; tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt tối thiểu 26,1%; giảm phát thải khí nhà kính ít nhất 9%.

9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm

Để cụ thể hóa các mục tiêu đã đề ra, Trung ương xác định 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm tạo chuyển biến căn bản trong công tác BVMT, chủ động ứng phó với BĐKH trong thời kỳ mới.

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao nhận thức và trách nhiệm xã hội; lan tỏa lối sống xanh, tiêu dùng bền vững; xây dựng ý thức tự giác, văn hóa môi trường trong toàn xã hội.

Hai là, hoàn thiện thể chế, siết chặt kỷ cương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật về BVMT và ứng phó với BĐKH.

Trong đó, khẩn trương hoàn thiện Luật BVMT và các quy định pháp luật có liên quan, bảo đảm đồng bộ, thống nhất; nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về ứng phó với BĐKH, thiên tai.

Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát; kết hợp giữa tiền kiểm và tăng cường hậu kiểm; quy định rõ trách nhiệm của từng cấp, từng cơ quan; lấy kết quả thực hiện các mục tiêu về môi trường làm một trong những tiêu chí đánh giá.

Hoàn thiện chế tài xử lý vi phạm theo hướng đủ sức răn đe; tăng cường hướng dẫn, đối thoại, hỗ trợ doanh nghiệp phòng ngừa sai sót, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật.

Ba là, huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho BVMT và ứng phó với BĐKH. Ngân sách nhà nước bố trí tối thiểu 2% tổng chi hằng năm cho sự nghiệp BVMT, bảo đảm giữ vai trò dẫn dắt; đồng thời huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội, nguồn vốn quốc tế, các quỹ khí hậu toàn cầu, nguồn tài chính xanh.

Cùng với đó, hoàn thiện cơ chế, chính sách theo hướng linh hoạt, hiệu quả trong huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực.

Bốn là, tập trung giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc, kiểm soát chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm.

Trọng tâm là xử lý ô nhiễm không khí tại các đô thị đặc biệt; ô nhiễm tại các lưu vực sông, kênh, mương, hồ; các làng nghề, cụm công nghiệp, khu vực khai thác khoáng sản, khu vực tồn lưu hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật.

Đầu tư phát triển hạ tầng phục vụ phân loại, thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải; giảm mạnh tỷ lệ chôn lấp trực tiếp chất thải rắn sinh hoạt.

Các nguồn phát sinh nước thải, khí thải lớn phải được giám sát tự động, liên tục, không để phát sinh các khu vực ô nhiễm nghiêm trọng.

Năm là, bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học và sử dụng hiệu quả tài nguyên. Hiện đại hóa công tác quản lý, khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên gắn với chuyển đổi số; thực hiện các giải pháp dựa vào tự nhiên, bảo vệ và phục hồi các hệ sinh thái quan trọng.

Sáu là, chủ động thích ứng với BĐKH, giảm thiểu rủi ro thiên tai.

Theo đó, cần cập nhật kịch bản BĐKH, điều chỉnh chiến lược, quy hoạch và xây dựng phương án phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai phù hợp với điều kiện từng địa phương.

Chú trọng đầu tư phát triển hạ tầng có khả năng chống chịu với thiên tai và BĐKH; tập trung giải quyết tình trạng ngập úng tại các đô thị, nhất là các đô thị lớn; phát triển đô thị theo hướng chống chịu, thích ứng với BĐKH.

Đồng thời, nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm; quy hoạch di dời người dân khỏi các khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở; bảo đảm sinh kế bền vững tại nơi ở mới.

Bảy là, đẩy mạnh chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn và quản lý phát thải khí nhà kính.

Trong đó, chuyển đổi các ngành kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn, carbon thấp; phát triển các ngành kinh tế mới, công nghiệp tái chế, giao thông xanh, đô thị xanh; thúc đẩy tuần hoàn vật liệu và sản phẩm trong toàn bộ chuỗi giá trị.

Bảo đảm công bằng trong quá trình chuyển đổi; chú trọng đào tạo, chuyển đổi nghề, hỗ trợ sinh kế cho người lao động và các nhóm dễ bị tổn thương.

Hoàn thiện các quy định về đo lường, thẩm định phát thải khí nhà kính theo tiêu chuẩn quốc tế; quản lý chặt chẽ hoạt động trao đổi tín chỉ carbon, đồng thời xây dựng các tiêu chuẩn tín chỉ carbon trong nước.

Tám là, phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và nguồn nhân lực. Ưu tiên nghiên cứu, phát triển, chuyển giao và ứng dụng các công nghệ quan trắc, dự báo, cảnh báo; công nghệ sạch, tái chế, xử lý chất thải, giảm phát thải, thu hồi, lưu giữ và tái sử dụng carbon.

Tập trung xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về môi trường và BĐKH thống nhất, đồng bộ, tích hợp, liên thông, phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, giám sát và công khai thông tin.

Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý môi trường, nhất là cán bộ cấp xã; xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành; thúc đẩy liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp; có chính sách đãi ngộ phù hợp.

Chín là, đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế. Việt Nam chủ động tham gia định hình các sáng kiến, thỏa thuận, cơ chế hợp tác khu vực và toàn cầu về môi trường, khí hậu; tăng cường ngoại giao môi trường, ngoại giao khí hậu.

Đồng thời, tăng cường hợp tác trong xử lý các vấn đề môi trường xuyên biên giới, quản lý tài nguyên nước, phòng, chống thiên tai, bảo đảm an ninh môi trường, an ninh khí hậu./.