GIỖ CHA
(BKTO) - Nó bừng tỉnh, có ai đó vừa vỗ nhẹ vào chân, tiếng mẹ gấp gáp: “Sắp vỡ đê rồi”. Hình ảnh mẹ quáng quàng nhét đống quần áo trên dây vào cái bao tải rồi lại lập cập vơ mấy thứ trong hòm gỗ cho vào cái bị dúi vội vào lòng nó: “Giữ chặt con nhé”.

Tiếng gió rít, tiếng sấm, tiếng trống hộ đê, tiếng mưa sầm sập.
Nó tụt khỏi giường, bước vội ra khỏi căn buồng nhập nhoạng ánh sáng. Trong cái ánh đèn dầu leo lét, vàng vọt, run rẩy, gian nhà giữa bộn bề, ngổn ngang đồ đạc, bố ngồi trên tấm phản còn lại, gầy guộc, thỉnh thoảng lại ho rũ từng cơn. Anh trai cả đang kiễng chân trên chiếc ghế, kê lên sát mái nhà mấy tấm gỗ chắc vừa được dỡ ra từ cái phản bố nằm. Chị gái nó nhanh thoăn thoắt chuyền từng cái bao tải vá víu cho anh…
Tiếng ai đó ngoài ngõ: “Nước ngập hết đường rồi”.
Tiếng trống hộ đê gõ liên hồi.
“Sắp vỡ đê rồi bà con ơi” - giọng một người hét lên mạn đầu xóm.
Mẹ nó gào vọng ra: “Vỡ ở đâu?”.
Tiếng bước chân nhiều người vội vã.
Tiếng lợn kêu eng éc. Tiếng gà quang quác. Tiếng í ới gọi nhau, giục nhau, quát nhau.
Bác hàng xóm tay cầm cái đèn bão, áo tơi kín mít vừa chạy, vừa gào lên trong tiếng mưa: “Thấy bảo nước phun lên từ tổ mối ở chỗ đê vỡ cũ, sợ không cầm cự được lâu”.
“Trời đất ơi!” - Mẹ như hụt hơi.
Tiếng bố ho dữ dội.
Cả nhà bấn loạn.
Đoạn đê vỡ cũ - đó là cái tên gắn với sự kiện vỡ đê năm 1971. Là chỗ mà đến giờ, thế hệ chúng nó vẫn còn thấy chứng tích xác chiếc xà lan đánh chìm ở đó, là nỗi ám ảnh của người dân quê nghèo, những làng xã sống xung quanh, là những câu chuyện của bố mẹ, anh chị kể lại. Còn nó, lúc ấy mới được hình hài mấy tháng tuổi còn nằm trong bụng mẹ.
Rằng năm đó, cũng trời mưa như trút. Trong làng, đồng ruộng, nước ngập trắng. Ngoài đê, nước sông Đà dâng lên cuồn cuộn. Sức mạnh của cơn đại hồng thủy sục vào những tổ mối ở chân đê, ùng ục, xổ tung. Con đê vỡ toác. Chỉ chờ có thế, dòng nước dữ đục ngầu cuồn cuộn nuốt chửng lấy làng mạc, thôn xóm, ruộng vườn của cả một vùng những làng quê xơ xác. Nhà cửa, trâu bò, lợn gà…, chỗ còn chỗ mất; người người sơ tán tứ phương.
Vỡ đê - từ năm đó trở thành nỗi ám ảnh của tất cả những ai đã từng sống và chứng kiến…
“Alo, alo! Bà con khẩn trương sơ tán lên đê. Alo, alo…”. Tiếng loa hối hả cắt đứt dòng suy tưởng của nó.
Mẹ lập cập: “Đoạn đê đó vẫn yếu lắm, mẹ sợ… Các con cho bố lên xe cải tiến chở lên chỗ điếm canh. Nhớ mặc áo tơi cho bố”.
Mẹ thở gấp, tái nhợt.
Anh trai lầm bầm: “Mẹ chưa dứt cơn sốt à?”. Mắt chị nó ngân ngấn nước.
Bố xua tay: “Không sao đâu, mấy mẹ con cứ thu dọn mang đồ lên đê trú tạm đi. Bố trông nhà...”, rồi bố lại ho, đầu tựa vào vách nhà, thở dốc.
Nó chụp vội cái nón mê lên đầu, tay khư khư ôm cái bị, túi sách và lọ mực tím lủng lẳng. Chị nó sấp ngửa đôi quang gánh, một bên bu gà, một bên mấy cái nồi, mấy đôi bát…
Mẹ và anh nó nhất định dìu bố ra cửa.
Tiếng trống hộ đê dồn dập hơn.
Tiếng loa riết róng hô hào thanh niên trai tráng đi cứu đê.
Tiếng bước chân lội bì bõm, ì oạp, tiếng trai gái í ới gọi nhau. Anh trai cả cuống cuồng: “Đưa bố mẹ và em lên điếm canh, con sẽ đi hộ đê”.
Nó líu ríu chạy theo…

Con sông nước đỏ ngầu hung hãn. Vào mùa khô, dòng sông như dải lụa mềm mại, trong vắt, bãi bồi xanh mướt ngô khoai. Nhưng mùa lũ, nước từ đầu nguồn sồng sộc chảy về. Chỉ trong mấy ngày báo động từ cấp 1, lên cấp 2, rồi vọt lên cấp 3. Con đê to là thế, vững chãi là thế giờ mong manh giữa một bên là dòng sông đỏ ngầu cuồn cuộn, một bên là làng xóm chìm ngập trong mưa lũ. Lũ sông, lũ đồng - đó là nỗi sợ hãi lớn nhất của người dân mấy xã nghèo ven đê…
Nó thấy mình một tay ôm cái bị mẹ đưa, một tay ôm mấy cuốn sách và cái lọ mực chạy sấp ngửa cạnh dòng nước đỏ ngầu. Nó bỗng thấy dưới chân mình con đê tròng trành, nứt toác. Nó thấy mình rơi tõm, lọt thỏm. Nó chới với. Nó hét lên: “Mẹ ơi!…”.
Thụy bừng tỉnh!
Mồ hôi ướt đầm, vã vần. Tiếng trống ngực đập thình thịch, vài giọt nước mắt vương trên má.
Thụy ngồi dậy, thở dốc - hóa ra cô mơ!
Căn phòng dịu nhẹ ánh đèn ngủ, tĩnh lặng, chỉ có tiếng điều hòa chạy êm ro. Cô với ly nước, miệng khô khốc. Ngoài trời, mưa rỉ rả.
Ngày mai giỗ cha!
Cha mất đúng đêm rằm tháng bảy.
Bao năm rồi, cái cảnh cha ốm liệt giường, mẹ xanh xao như tàu lá lặn ngụp trong mưa. Bao năm rồi, cái cảnh chạy nước, chạy lũ vẫn trở thành nỗi ám ảnh không nguôi.
Ngày tháng ấy, chịu di chứng của chiến tranh, bố mang bao nhiêu bệnh tật. Mẹ sức khỏe yếu, quặt quẹo triền miên hết cơn sốt này đến cơn sốt khác. Cả bố lẫn mẹ đều ốm lay lắt, ròng rã gần chục năm giời.
Ngày ấy, nước sông Đà cũng dâng lên mấp mé bên đê, mưa trong làng ngập trắng ruộng đồng, lối xóm. Họ hàng bảo: “Chỉ sợ chú ấy đi vào mùa lũ, lấy đất đâu mà chôn”.
Mẹ sụt sịt lén lau nước mắt. Anh chị em lẳng lặng mỗi đứa đứng một nơi.
Nó thường nấp ở gian trái nhà, trong cái góc treo mấy bộ quần áo sờn rách, ẩm mốc mà rấm rứt khóc. Nó sợ. Sợ mấy bà hàng xóm to nhỏ: “Không khéo cô ấy cũng theo chồng mà đi. Khổ, các con còn chưa trưởng thành. Con út còn bé bỏng quá…”
Lỡ bố đi thì sao? Lỡ mẹ cũng theo bố thì sao?
Nó sợ.
Nó khấn trời, khấn phật.
Nó mong có bà tiên đến cứu giúp bố mẹ nó. Nó ước, nó cầu xin.
Nó khấn mưa đừng rơi nữa.
Nó mong nước rút dần ngoài sông.
Nó mong nước rút dần ngoài ruộng.
Nó khóc!
Và nó đâu có biết rằng, mấy chục năm sau, nó vẫn mơ về những khung cảnh ấy, nỗi ám ảnh ấy, cái hãi hùng ấy…
Thụy không ngủ được nữa. Cô dậy, băng qua ban thờ thắp mấy nén hương rồi rời khỏi nhà.
Hôm nay giỗ cha.
Đêm qua mưa cũng kéo về.
Lạ thật.
Gần như năm nào giỗ cha, giỗ mẹ trời cũng đổ mưa.
Con đường dẫn về làng giờ rộng thênh thang, hai bên nhà cao tầng mọc san sát. Các biển hiệu sặc sỡ.
Chiếc xe từ từ bò lên dốc. Cái điếm canh đê vẫn ở đó - chứng tích mấy chục năm. Chứng tích của tiếng trống hộ đê. Chứng tích của những cây tre chắn ngang lối đi với dòng chữ nguệch ngoạc: Đê yếu, cấm các phương tiện di chuyển…
Con đê giờ được rải bê tông, không còn là đường đất lồi lõm, cỏ mọc nham nhở dưới những vết chân trâu. Thụy hạ kính, thò tay ra ngoài, gió như thì thầm vọng gọi. Mắt cô phiêu du trên nóc những ngôi nhà, trên những ngọn cây, trên bãi bồi tít tắp. Nơi đó, không còn bến bờ, không còn hiện tại, không phải tương lai.
Nơi ấy, xa ngái là con nước lũ đục ngầu cuồn cuộn chảy, là những tiếng trống hộ đê liên hồi, là những ánh mắt hoảng hốt, thất thần…
Năm ấy, những tổ mối trong đê được kịp thời nhồi đắp; những trai tráng, thanh niên, các lực lượng hộ đê chở đá, chở cát lặn ngụp trong mưa với quyết tâm cứu đê bằng mọi giá.
Nơi ấy, ông trời chắc cũng nghe thấu những lời khấn nguyện của bà con dân nghèo mấy xã mà ngớt đổ mưa. Con sông không vần vũ nữa. Trong ngõ, ngoài đồng, nước rút đuổi nhau về mương, rạch.
Nơi ấy, bà con lục tục về lại xóm. Mẹ và anh chị lướt thướt chở bố về nhà.
Năm ấy, nước thôi dâng, đê không vỡ nhưng cuối cùng lại cướp đi sinh mệnh của cha…
Cha nằm đây, cùng mẹ, cạnh ông bà. Những ngôi mộ giờ được xây bằng đá, khang trang, sạch sẽ. Những ngôi mộ mang bao niềm giấu thương vô hạn của các con, các cháu. Nhưng đó cũng là ngôi mộ của những người chưa một lần được hưởng trọn vẹn sự báo hiếu của các con khi họ đã trưởng thành.
Mấy anh chị em, không ai nói với ai một câu. Chỉ có tiếng gió, tiếng lòng trong khói hương hư vô trầm mặc.
Mỗi lần giỗ cha, giỗ mẹ, anh chị em Thụy về đây.
Về với tuổi thơ.
Về với ngôi nhà 3 gian gió thổi tuềnh toàng.
Về với một thời đói rét, ốm đau.
Về với dòng sông bên lở bên bồi.
Về với những cơn mưa trắng ruộng đồng, sông nước.
Về với - những nỗi đau không thể gọi thành tên…
Tháng 8
Tin liên quan
Có thể bạn quan tâm
Tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và tạo động lực mới cho ngành du lịch phát triển
(BKTO) - Sáng 26/10, tại Hà Nội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) đã tổ chức Hội nghị lấy ý kiến Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính