Kiểm toán trong điều kiện chế độ kế toán mới: Mở rộng nội dung, thay đổi cách tiếp cận
(BKTO) - Những thay đổi trong hệ thống kế toán mới đòi hỏi kiểm toán viên (KTV) phải định hình lại quy trình, nội dung kiểm toán, đồng thời tăng cường ứng dụng dữ liệu lớn, tự động hóa và phân tích từ xa. Thách thức đặt ra là phải rút gọn hồ sơ nhưng vẫn bảo đảm chất lượng kiểm toán tối ưu trong thời gian ngắn.

Mở rộng nội dung kiểm toán
Theo TS. Phạm Tiến Dũng - Phó Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước khu vực I, Thông tư số 24/2024/TT-BTC ngày 17/4/2024 hướng dẫn chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp (HCSN) đã thay đổi căn bản hệ thống tài khoản kế toán, nguyên tắc ghi nhận doanh thu, chi phí, báo cáo tài chính (BCTC), báo cáo quyết toán (BCQT), quản lý tài sản công, chuyển đổi số dư kế toán và ứng dụng công nghệ thông tin trong kế toán. Các thay đổi này tác động trực tiếp đến nội dung, phương pháp kiểm toán, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ, xác định rủi ro, thu thập bằng chứng và nhiều nội dung khác khi triển khai kiểm toán BCTC, BCQT tại các đơn vị HCSN.
Nghiên cứu “Hoàn thiện nội dung kiểm toán đơn vị HCSN trong điều kiện áp dụng chế độ kế toán mới” do ThS. Nguyễn Thị Thu Trung - Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm toán - thực hiện chỉ rõ, việc mở rộng đối tượng áp dụng đã bao quát đầy đủ phạm vi, đối tượng và nội dung của công tác kế toán, qua đó thu hẹp khoảng trống pháp lý khi các đơn vị bắt đầu triển khai thực hiện từ năm 2025. Khi áp dụng thống nhất một chế độ kế toán, việc tổng hợp thông tin sẽ thuận lợi hơn, giúp rút ngắn thời gian cung cấp hồ sơ, tài liệu cho cơ quan kiểm toán.
Chế độ kế toán mới cũng hệ thống hóa lại các tài khoản kế toán và hướng dẫn hạch toán phù hợp với cơ chế tài chính, Chuẩn mực kế toán công Việt Nam cùng thực tế hoạt động của các đơn vị; đồng thời bổ sung các nguyên tắc hạch toán của các tài khoản, giúp việc ghi chép kế toán được thực hiện thống nhất và số liệu BCTC được trình bày đầy đủ, phù hợp. Ngoài ra, chế độ kế toán mới đã bổ sung hướng dẫn hạch toán và đối chiếu công nợ phải thu, phải trả của đơn vị kế toán, hạch toán tỷ giá phù hợp với quy định; sửa đổi một số nội dung liên quan đến hạch toán các nghiệp vụ phát sinh trong hoạt động liên doanh, liên kết; hạch toán ghi nhận doanh thu, chi phí, các quỹ. Đây là những thay đổi rất quan trọng, giúp KTV có đầy đủ căn cứ để đưa ra ý kiến đảm bảo cơ sở pháp lý, phản ánh trung thực, đúng bản chất các chỉ tiêu và thông tin kế toán.
Chế độ kế toán mới giúp hệ thống thông tin tài chính, kế toán được chuẩn hóa, minh bạch và phù hợp với yêu cầu quản lý hiện đại. Từ đó, KTV có điều kiện tiếp cận nguồn dữ liệu đầy đủ, có cấu trúc rõ ràng hơn, thuận lợi cho việc phân tích, đối chiếu và xác minh thông tin, góp phần nâng cao chất lượng bằng chứng kiểm toán và độ tin cậy của kết luận kiểm toán.
Bên cạnh đó, ThS. Nguyễn Thị Thu Trung cho rằng, chế độ kế toán mới không quy định mẫu chứng từ và mẫu sổ bắt buộc, tạo sự linh hoạt hơn trong quá trình ban hành hệ thống chứng từ, mẫu sổ kế toán. Tuy nhiên, điều này lại dễ dẫn đến việc các đơn vị trong cùng loại hình, cùng cơ quan quản lý cấp trên không thống nhất mẫu chứng từ, mẫu sổ kế toán, gây khó khăn nhất định cho công tác quản lý cũng như việc tổng hợp, kiểm tra, kiểm toán.
Đối với BCQT, Thông tư số 24/2024/TT-BTC quy định 5 mẫu biểu quyết toán kinh phí hoạt động, bổ sung thêm một số chỉ tiêu báo cáo theo đề nghị của các đơn vị chức năng để đảm bảo đầy đủ thông tin. Thay đổi này đặt ra yêu cầu KTV phải mở rộng nội dung kiểm toán, không chỉ kiểm tra tổng số kinh phí quyết toán mà còn phải đánh giá sâu sắc tính đầy đủ, chính xác của từng chỉ tiêu báo cáo theo mẫu biểu mới.
Định hình lại quy trình kiểm toán
Qua nghiên cứu, ThS. Nguyễn Thị Thu Trung cho rằng, KTV cần đánh giá rõ ràng đơn vị HCSN là đơn vị kế toán (có hay không có đơn vị hạch toán phụ thuộc và đầu mối chi tiêu) hay chỉ là đơn vị hạch toán phụ thuộc và đầu mối chi tiêu. Từ khâu thu thập thông tin lập kế hoạch kiểm toán đến quá trình triển khai thực hiện kiểm toán, KTV phải đánh giá chuẩn xác để lựa chọn đơn vị kiểm toán chi tiết phù hợp.
Nội dung kiểm toán cần gắn chặt với việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ và tổ chức công tác kế toán. Theo đó, KTV cần xem xét điều kiện tổ chức thực hiện của đơn vị; đánh giá sai sót phát sinh là sai sót đơn lẻ hay là hệ quả của khiếm khuyết hệ thống, mở rộng trọng tâm từ “kiểm tra kết quả cuối cùng” sang “đánh giá quy trình hình thành số liệu”. Từ đó, kịp thời kiến nghị hoàn thiện kiểm soát nội bộ, chuẩn hóa quy trình kế toán và nâng cao năng lực cán bộ kế toán tại đơn vị HCSN.
Bên cạnh đó, KTV cần đặc biệt lưu ý đánh giá công tác xử lý tài chính công, tài sản công khi chuyển tiếp số liệu trên hệ thống sổ sách kế toán theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.
Trong đó, với các đơn vị không thực hiện sắp xếp lại đơn vị hành chính, cần kiểm tra kỹ việc chuyển đổi số dư của các tài khoản kế toán từ cuối năm 2024 sang đầu năm 2025, đặc biệt đánh giá ảnh hưởng đến tình hình tài chính của đơn vị phản ánh trong năm 2025 để kiểm tra chi tiết hơn các khoản mục có liên quan bị tác động.
Đối với các đơn vị thực hiện sắp xếp lại, ngoài việc kiểm tra chuyển đổi số dư của các tài khoản kế toán, KTV cần kiểm tra kiểm soát: Thời điểm chốt số liệu về tài sản, tài chính, ngân sách, kế toán của đơn vị khi bàn giao, tiếp nhận; đối chiếu để xác định tính chính xác, đầy đủ, thống nhất của số liệu kiểm kê; kiểm tra phương án điều chỉnh, xử lý sai sót, chênh lệch nhằm đưa ra ý kiến đánh giá trung thực, hợp lý và khách quan.
Trong công tác lập và trình bày BCQT, nội dung kiểm toán không chỉ dừng lại ở việc kiểm tra tính đúng đắn của báo cáo mà còn phải đánh giá logic lập báo cáo, căn cứ ghi nhận từng chỉ tiêu, sự nhất quán giữa BCQT với sổ kế toán, chứng từ, dự toán được giao và BCTC. Liên quan đến phân loại, hạch toán và quyết toán các nguồn kinh phí, KTV cần chuyển từ cách tiếp cận “kiểm tra chi tiêu” sang “kiểm tra bản chất nguồn lực tài chính công”. Qua đó làm rõ đơn vị đã xác định đúng nguồn, hạch toán riêng từng nguồn chưa, có tình trạng dùng sai nguồn, quyết toán lẫn lộn giữa nguồn tự chủ và không tự chủ, giữa nguồn giao dự toán và nguồn tiếp nhận hỗ trợ hay không?
Đối với kinh phí được cấp có tính chất ủy quyền hoặc hỗ trợ chéo giữa các cấp ngân sách, cần truy xét rõ đường đi của kinh phí, đánh giá tính hợp pháp của căn cứ giao, mức độ phù hợp trong hạch toán và nguy cơ trùng lặp khi tổng hợp quyết toán. Đây là khâu rất dễ phát sinh sai sót khi áp dụng chế độ mới.
ThS. Nguyễn Thị Thu Trung nhấn mạnh, KTV cần tăng cường kiểm tra tính liên thông giữa BCQT và BCTC, nhìn nhận hai hệ thống báo cáo này trong mối quan hệ hữu cơ mật thiết; phát hiện những trường hợp quyết toán đúng hình thức nhưng chưa phản ánh đầy đủ bản chất tài chính và ngược lại. Để kiểm tra tính nhất quán của toàn bộ hệ thống thông tin kế toán, KTV cần nâng cao năng lực đọc hiểu các chỉ tiêu BCTC khu vực công, mối quan hệ giữa tài khoản kế toán với từng chỉ tiêu báo cáo và phân tích dữ liệu chuyên sâu để phát hiện rủi ro bất thường. Đây là điều kiện quan trọng để nâng cao độ tin cậy của kết luận kiểm toán trong bối cảnh chế độ kế toán mới ngày càng chú trọng chuẩn hóa và minh bạch thông tin./.
Tin liên quan
Có thể bạn quan tâm
Kiểm toán nhà nước kiến nghị Thuế tỉnh Khánh Hòa chấn chỉnh các sai sót trong thanh tra, kiểm tra thuế
(BKTO) - Qua kiểm toán Chuyên đề công tác thanh tra, kiểm tra thuế; miễn, giảm, gia hạn thời hạn nộp thuế; hoàn thuế giá trị gia tăng giai đoạn 2023-2025 của Th