aa
◐

Sửa Luật An toàn thực phẩm: Quản lý theo rủi ro, giảm gánh nặng cho doanh nghiệp

TRẦN THIỆN |

(BKTO) - Các hiệp hội, doanh nghiệp (DN) cho rằng Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) đã thể hiện rõ tinh thần cải cách, song vẫn cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng quản lý dựa trên mức độ rủi ro, cắt giảm thủ tục không cần thiết và tạo thuận lợi hơn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu thực phẩm.

Chiều 4/9, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội tổ chức Hội thảo “Góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi)”.

Quang cảnh Hội thảo. Ảnh: T.THIỆN

Quản lý thực phẩm cần chuyển mạnh sang dựa trên rủi ro

Theo Bộ Y tế - cơ quan chủ trì soạn thảo, việc sửa đổi Luật An toàn thực phẩm năm 2010 nhằm kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực thi; đồng thời, xác định rõ hơn trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, DN kinh doanh thực phẩm và người dân trong phòng ngừa, ngăn chặn, khắc phục sự cố an toàn thực phẩm, qua đó góp phần bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.

Một trong những định hướng đáng chú ý của Dự thảo Luật là xây dựng hệ cơ sở dữ liệu quốc gia về an toàn thực phẩm, phục vụ công tác quản lý nhà nước và đáp ứng yêu cầu khai thác, sử dụng thông tin vì lợi ích công cộng. Cùng với đó, các quy định được thiết kế theo hướng tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý thực phẩm, tạo thuận lợi cho người dân, DN và bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng.

Chia sẻ tại Hội thảo, ông Đậu Anh Tuấn - Phó Tổng Thư ký VCCI cho biết, cộng đồng DN đồng thuận với tinh thần cải cách được thể hiện trong Dự thảo Luật. Tuy nhiên, qua tổng hợp ý kiến của các hiệp hội và DN, VCCI nhận thấy vẫn còn một số quy định cần tiếp tục rà soát nhằm bảo đảm tính khả thi, giảm chi phí tuân thủ và tạo sự thống nhất trong quá trình thực thi.

Một trong những vấn đề được VCCI đặc biệt lưu ý là cách thức phân loại và quản lý thực phẩm theo mức độ rủi ro.

Theo VCCI, Dự thảo hiện chia thực phẩm thành hai nhóm nguy cơ nhưng đồng thời duy trì ba tầng thủ tục quản lý, có thể dẫn đến sự thiếu đồng bộ trong cách tiếp cận. Do đó, cơ quan soạn thảo cần nghiên cứu thống nhất việc phân loại thực phẩm theo ba mức rủi ro cao, trung bình và thấp, tương đồng với định hướng của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa và các khuyến nghị quốc tế. Việc thống nhất cách phân loại và thống nhất thuật ngữ giữa hai đạo luật sẽ thuận lợi hơn cho cả cơ quan quản lý lẫn doanh nghiệp.

Cùng với phân loại, VCCI đề nghị định lượng cụ thể những khái niệm, tiêu chí còn mang tính định tính, diễn giải rộng, chẳng hạn như sản phẩm có khuyến cáo về sức khỏe, sử dụng cho đối tượng dễ tổn thương... Đây là yêu cầu quan trọng bởi nếu quy định không đủ rõ, cùng một loại sản phẩm có thể được hiểu và áp dụng khác nhau giữa các cơ quan quản lý hoặc giữa các địa phương, từ đó làm phát sinh chi phí và thời gian không cần thiết cho DN.

VCCI cũng đề xuất rà soát thành phần hồ sơ công bố sản phẩm theo hướng phù hợp hơn với đặc điểm từng nhóm thực phẩm. Những yêu cầu như báo cáo quá trình nghiên cứu, bằng chứng khoa học hoặc kết quả thử nghiệm độ ổn định, theo VCCI, chỉ nên bắt buộc đối với thực phẩm bảo vệ sức khỏe và các sản phẩm có tính chất đặc thù; không nên áp dụng đồng loạt đối với thực phẩm thông thường, nông sản của làng nghề hoặc sản phẩm của DN nhỏ.

Đáng chú ý, VCCI đề nghị làm rõ cơ chế công bố sản phẩm, đặc biệt là thời điểm DN được phép đưa sản phẩm ra lưu hành: ngay sau khi nộp hồ sơ hợp lệ hay chỉ sau khi cơ quan nhà nước tiếp nhận, thẩm định và đăng tải. Đây là điểm có ý nghĩa quyết định, bởi cách quy định sẽ tác động trực tiếp đến thời gian đưa sản phẩm ra thị trường và bản chất của cơ chế quản lý.

Gỡ vướng thủ tục để không làm gián đoạn sản xuất, kinh doanh

Một vấn đề khác được cộng đồng DN quan tâm là thời hạn hiệu lực của giấy đăng ký và các quy định chuyển tiếp khi Luật mới có hiệu lực.

VCCI đề nghị quy định ngay trong Luật nguyên tắc gia hạn tự động giấy đăng ký sau 5 năm mà không phát sinh thêm thủ tục hành chính. Đối với số lượng lớn sản phẩm đang được lưu hành hợp pháp theo quy định hiện hành, các yêu cầu mới chỉ nên được áp dụng khi DN có thay đổi trọng yếu đối với sản phẩm hoặc cơ quan chức năng phát hiện dấu hiệu vi phạm.

Theo VCCI, cách thiết kế này sẽ hạn chế tình trạng DN phải thực hiện lại thủ tục đối với những sản phẩm vốn đang được lưu hành hợp pháp, đồng thời giúp cơ quan quản lý tập trung nguồn lực vào các sản phẩm, cơ sở và hoạt động có nguy cơ cao.

Trong lĩnh vực kiểm tra nhà nước với thực phẩm nhập khẩu, VCCI cho rằng, nếu yêu cầu thông báo kết quả đạt yêu cầu đối với từng lô hàng được áp dụng cả trong trường hợp kiểm tra giảm, khối lượng thủ tục sẽ gia tăng đáng kể, tiềm ẩn nguy cơ ùn tắc tại cửa khẩu, đặc biệt đối với thực phẩm tươi sống. Do đó, VCCI đề nghị cân nhắc miễn kiểm tra đối với nguyên liệu, phụ gia và chất hỗ trợ chế biến nhập khẩu để sử dụng nội bộ, không đưa ra lưu thông trực tiếp trên thị trường. Đối với phương thức kiểm tra giảm, chỉ nên thực hiện kiểm tra hồ sơ đối với các cơ sở đã được chứng nhận GMP, HACCP, ISO 22000, IFS, BRCGS, FSSC 22000 hoặc hệ thống tương đương.

Cùng với cải cách thủ tục, VCCI lưu ý việc xây dựng và kết nối hệ cơ sở dữ liệu quốc gia về an toàn thực phẩm cần có lộ trình phù hợp, phân tầng dữ liệu và đặc biệt phải bảo đảm bí mật kinh doanh, thông tin thương mại của DN.

Hiệp hội, doanh nghiệp kiến nghị từ thực tiễn sản xuất

Đồng quan điểm với VCCI, đại diện các hiệp hội ngành hàng đưa ra nhiều kiến nghị nhằm tiếp tục đơn giản hóa thủ tục, giảm chi phí tuân thủ và bảo đảm tính liên tục của hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Đại diện Hiệp hội Sữa Việt Nam đề xuất cắt giảm những tài liệu không cần thiết trong thành phần hồ sơ; tạo điều kiện thuận lợi, rút ngắn thời gian thông quan đối với nguyên liệu nhập khẩu phục vụ sản xuất nội bộ; đồng thời duy trì hiệu lực đối với những hồ sơ sản phẩm đã được công bố theo quy định trước đây.

Trong khi đó, đại diện Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) - bà Trần Hoàng Yến - đề xuất 5 định hướng trọng tâm. Trong đó, đáng chú ý là áp dụng phương pháp đánh giá nguy cơ đối với các hoạt chất chưa có ngưỡng; miễn đăng ký công bố đối với nguyên liệu có rủi ro thấp được sử dụng trong chuỗi B2B; cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng linh hoạt và có cơ chế xử lý phù hợp đối với hàng hóa bị trả về.

VASEP cũng đề nghị thống nhất tiêu chuẩn an toàn thực phẩm theo yêu cầu của thị trường đích và áp dụng cơ chế cấp chứng nhận xuất khẩu linh hoạt hơn, dựa trên lịch sử tuân thủ của DN.

Từ thực tiễn sản xuất và xuất khẩu, ông Nguyễn Như Tiệp - đại diện Tập đoàn Thủy sản Minh Phú - cho rằng, một trong những vướng mắc lớn đối với hàng hóa nông, lâm, thủy sản Việt Nam khi tiếp cận thị trường quốc tế là vấn đề tồn dư hóa chất, kháng sinh và chất ô nhiễm.

Theo ông Tiệp, nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ khâu sản xuất ban đầu, sơ chế, chế biến khi việc áp dụng các hệ thống quản lý an toàn thực phẩm tiên tiến chưa đồng bộ. Do đó, bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, Nhà nước cần có chính sách khuyến khích, hỗ trợ tài chính và kỹ thuật thiết thực để các cơ sở sản xuất, kinh doanh, nhất là DN quy mô vừa và nhỏ, từng bước chuẩn hóa quy trình theo các tiêu chuẩn quốc tế như GAP, HACCP, ISO. Đây cũng được xem là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng, khả năng truy xuất và sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Những ý kiến tại Hội thảo cho thấy yêu cầu sửa đổi Luật An toàn thực phẩm không chỉ dừng ở việc khắc phục những bất cập của hệ thống pháp luật hiện hành, mà còn đặt ra bài toán cân bằng giữa bảo đảm an toàn thực phẩm và tạo thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh. Theo đó, quản lý dựa trên mức độ rủi ro, tăng cường hậu kiểm, đẩy mạnh số hóa và phân cấp, đồng thời giảm những thủ tục không tạo thêm giá trị về kiểm soát an toàn, sẽ là những hướng quan trọng để Dự thảo Luật vừa nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, vừa tạo môi trường thuận lợi cho DN phát triển./.