Thu hút đầu tư: Gỡ nút thắt, tạo giá trị
(BKTO) - Dự án Luật Đầu tư (sửa đổi) đặt ra yêu cầu không chỉ tháo gỡ những điểm nghẽn, chồng chéo trong hệ thống pháp luật, mà còn đổi mới tư duy thu hút đầu tư theo hướng coi trọng chất lượng và hiệu quả. Trong bối cảnh cần huy động mạnh mẽ các nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng cao, chính sách ưu đãi cần hướng tới giá trị gia tăng, gắn với cam kết và kết quả thực hiện; đồng thời, tăng cường hậu kiểm để bảo đảm nguồn lực được sử dụng đúng mục tiêu, tạo ra giá trị thực chất cho nền kinh tế.

Những điểm nghẽn từ sự thiếu đồng bộ pháp luật
Một trong những điểm nghẽn đáng chú ý của pháp luật về đầu tư là sự chồng chéo, giao thoa thẩm quyền giữa Luật Đầu tư và các luật chuyên ngành. Theo đại biểu Hoàng Minh Hiếu (Đoàn đại biểu Quốc hội (ĐBQH) tỉnh Nghệ An), quy trình chấp thuận chủ trương đầu tư hiện nay yêu cầu cơ quan quản lý xem xét đồng thời nhiều nội dung như địa điểm, đất đai, quy hoạch, quy mô, tiến độ và tác động môi trường. Tuy nhiên, sau khi hoàn tất thủ tục này, nhà đầu tư vẫn phải tiếp tục thực hiện các thủ tục tương ứng theo pháp luật chuyên ngành. Cách tiếp cận đó có thể kéo dài thời gian triển khai dự án, đồng thời khiến Luật Đầu tư phải tiếp tục điều chỉnh khi quy định của các luật chuyên ngành thay đổi.
Sự thiếu đồng bộ còn thể hiện ở danh mục ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh và ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Một số sản phẩm, hoạt động mới có thể được quy định tại các dự thảo luật chuyên ngành nhưng chưa được cập nhật tương ứng trong Luật Đầu tư. Ở chiều ngược lại, có ngành, nghề được đưa ra khỏi danh mục kinh doanh có điều kiện nhưng luật chuyên ngành vẫn duy trì giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề. Những khoảng trống và điểm chưa thống nhất này có thể khiến cơ quan thực thi lúng túng, doanh nghiệp (DN) khó xác định yêu cầu pháp lý và làm phát sinh nguy cơ tranh chấp.
Vướng mắc cũng xuất hiện trong cách hiểu và áp dụng điều kiện đầu tư kinh doanh. Đại biểu Đồng Ngọc Ba (Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai) cho rằng, việc luật chuyên ngành hạn chế hình thức tổ chức kinh doanh của DN thực chất có thể tạo ra rào cản gia nhập thị trường, không nên đồng nhất với điều kiện về vốn hay nhân lực. Đại biểu đồng thời đề nghị phân biệt rõ chứng chỉ hành nghề của cá nhân với chứng chỉ được xác định là điều kiện bắt buộc để DN hoạt động, tránh tình trạng cắt giảm điều kiện kinh doanh nhưng bỏ sót yêu cầu chuyên môn cần thiết.
Những ý kiến này cho thấy, yêu cầu sửa đổi Luật Đầu tư không chỉ là giảm số lượng thủ tục, mà còn phải làm rõ phạm vi điều chỉnh và mối quan hệ giữa luật chung với các luật chuyên ngành. Khi trách nhiệm quản lý và yêu cầu pháp lý được phân định rõ, DN có thể giảm chi phí tuân thủ, còn cơ quan thực thi có cơ sở thống nhất để áp dụng.
Ưu đãi cần hướng tới giá trị gia tăng
Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút FDI ngày càng gay gắt, chính sách ưu đãi đầu tư cần hướng tới những dự án có khả năng tạo giá trị gia tăng, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và tăng cường liên kết với DN trong nước. Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn (Đoàn ĐBQH TP. Hải Phòng) đánh giá, Dự thảo Luật sửa đổi đã có sự chuyển hướng khi tập trung ưu đãi vào các lĩnh vực công nghệ chiến lược như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), trung tâm dữ liệu và logistics quốc tế. Tuy nhiên, đại biểu cho rằng, việc lấy quy mô vốn và thời hạn giải ngân làm điều kiện đầu vào vẫn có thể chưa phản ánh đầy đủ chất lượng dự án.
Ở những lĩnh vực dựa nhiều vào tri thức như thiết kế chip, phần mềm và AI, tài sản chủ yếu có thể là chất xám, công nghệ và năng lực nghiên cứu, phát triển (R&D), thay vì tài sản cố định có giá trị lớn. Vì vậy, nếu chỉ căn cứ vào ngưỡng vốn, chính sách có thể chưa phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực. Đại biểu kiến nghị xác định ngưỡng vốn riêng, đồng thời kết hợp các tiêu chí về trình độ công nghệ, giá trị gia tăng và mức độ liên kết với DN trong nước.
Cùng quan điểm cần đánh giá hiệu quả thực chất, đại biểu Nguyễn Văn Huy (Đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên) nhấn mạnh, 2 dự án có cùng quy mô vốn nhưng mức độ đóng góp cho nền kinh tế có thể rất khác nhau: Một dự án chủ yếu gia công, lắp ráp và nhập khẩu linh kiện; dự án còn lại đầu tư vào R&D, đào tạo kỹ sư trong nước và phát triển năng lực công nghệ. Vì vậy, chất lượng dự án cần được đánh giá trên cơ sở những giá trị mà dự án tạo ra, thay vì chỉ nhìn vào tổng vốn đăng ký.
Từ góc độ hoàn thiện thể chế, đại biểu Hoàng Minh Hiếu đề nghị nghiên cứu thu hẹp phạm vi kiểm soát trước của Luật Đầu tư, tập trung vào những dự án liên quan đến quốc phòng, an ninh, hạ tầng trọng yếu hoặc lợi ích chiến lược. Các nội dung khác cần được điều chỉnh theo pháp luật chuyên ngành, trên cơ sở phân định rõ trách nhiệm quản lý, tránh tình trạng nhiều cơ quan cùng xem xét một vấn đề nhưng không xác định được cơ quan chịu trách nhiệm chính.
Định hướng này đặt ra yêu cầu chuyển từ cơ chế kiểm soát đầu vào nặng về thủ tục sang quản lý dựa trên mức độ rủi ro và kết quả thực hiện. Tuy nhiên, việc giảm tiền kiểm chỉ có thể phát huy hiệu quả khi đi cùng hệ thống hậu kiểm đủ năng lực, tiêu chí đánh giá rõ ràng và cơ chế xử lý vi phạm nghiêm minh.
Hậu kiểm để bảo đảm hiệu quả ưu đãi
Phản hồi các ý kiến tại nghị trường, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho rằng, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần thiết kế chính sách ưu đãi đủ mạnh, thông thoáng để cạnh tranh thu hút dòng vốn. Tuy nhiên, thu hút đầu tư trong bối cảnh mới phải đặc biệt quan tâm đến việc gắn hoạt động đầu tư với sản xuất trong nước. Định hướng được cơ quan soạn thảo nhấn mạnh là: “Việc hỗ trợ đầu tư phải gắn với kết quả đầu ra.”
Theo đó, ưu đãi không thể chỉ là những cam kết trên giấy mà cần được lượng hóa bằng các chỉ số cụ thể, đi kèm cơ chế kiểm tra, giám sát thường xuyên. Với những trường hợp nhà đầu tư không đáp ứng yêu cầu hoặc không thực hiện đúng cam kết sau khi nhận ưu đãi, cần hoàn thiện cơ sở pháp lý để xử lý, chấm dứt hỗ trợ và thu hồi theo quy định. Việc xác lập rõ điều kiện, tiêu chí và chế tài ngay từ đầu vừa góp phần bảo đảm hiệu quả chính sách, vừa hạn chế nguy cơ phát sinh khiếu kiện, tranh chấp đầu tư quốc tế.
Đối với Quỹ Hỗ trợ đầu tư, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn đề xuất Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán hằng năm nhằm bảo đảm nguồn vốn hỗ trợ được sử dụng đúng đối tượng, đúng mục tiêu và có hiệu quả. Đây là một trong những yêu cầu quan trọng để chính sách ưu đãi không chỉ được đánh giá ở quy mô nguồn lực đã bố trí, mà còn ở kết quả thực tế mà nguồn lực đó tạo ra.
Những ý kiến của các đại biểu cho thấy sửa đổi Luật Đầu tư cần được nhìn nhận như một bước hoàn thiện tư duy quản lý: Giảm những thủ tục tiền kiểm không cần thiết, phân định rõ thẩm quyền giữa luật chung và luật chuyên ngành, đồng thời tăng cường hậu kiểm dựa trên tiêu chí và kết quả thực hiện. Khi ưu đãi được thiết kế minh bạch, gắn với chất lượng dự án và trách nhiệm giải trình, chính sách thu hút đầu tư mới có thể chuyển từ mục tiêu tăng quy mô vốn sang nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, tạo giá trị gia tăng và tăng cường năng lực nội sinh của nền kinh tế./.
Tin liên quan
Có thể bạn quan tâm
Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn bãi nhiệm chức Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ
(BKTO) - Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định phê chuẩn kết quả bãi nhiệm chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Phú Thọ nhiệm kỳ 2026 -