aa
◐

Vốn cho đột phá khoa học, công nghệ: Không thể “nằm chờ”!

NGUYỄN HỒNG (Thực hiện) |

(BKTO) - Kết quả kiểm toán quyết toán ngân sách nhà nước năm 2025 cho thấy, hơn 9.000 tỷ đồng vốn đầu tư phát triển thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Nghị quyết 57) chưa được phân bổ, nhiều dự án giải ngân thấp. Trao đổi với Báo Kiểm toán vấn đề này, đại biểu Quốc hội Trần Văn Khải - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội - cho rằng, cần đổi mới cơ chế quản lý, gắn phân bổ vốn với kết quả đầu ra và tăng cường giám sát để nguồn lực khoa học, công nghệ thực sự tạo ra giá trị.

Đại biểu Quốc hội Trần Văn Khải - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội

Thưa ông, theo kết quả kiểm toán quyết toán ngân sách nhà nước năm 2025 và báo cáo thẩm tra quyết toán ngân sách nhà nước năm 2025 trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ Hai, đến hết năm 2025 vẫn còn hơn 9.000 tỷ đồng vốn đầu tư phát triển thực hiện Nghị quyết 57 chưa được phân bổ; một số dự án phát triển khoa học công nghệ và chuyển đổi số theo Nghị quyết 57 giải ngân rất thấp. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là lĩnh vực ưu tiên chiến lược, ông nhìn nhận thế nào về thực trạng này?

Tôi cho rằng đây là một tín hiệu cảnh báo cần được nhìn thẳng, nói thật. Lần đầu tiên, Đảng và Nhà nước bố trí đủ 3% tổng chi ngân sách cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, khoảng 76.000 tỷ đồng năm 2025 và 95.000 tỷ đồng năm 2026. Đó là cam kết chính trị chưa từng có.

Thế nhưng, hơn 9.000 tỷ đồng vốn đầu tư phát triển chưa được phân bổ; có dự án như Phòng thí nghiệm vi mạch bán dẫn được giao 100 tỷ đồng mà theo Kiểm toán nhà nước giải ngân chưa đạt 1%. Điều đó phản ánh một nghịch lý: Nguồn lực đã đi trước, nhưng năng lực hấp thụ và tổ chức thực hiện chưa theo kịp.

Phải nói rõ, chậm vốn trong lĩnh vực này không đơn thuần là chuyện “tiền nằm im” trong tài khoản. Đó là chi phí cơ hội rất lớn. Trong cuộc cạnh tranh công nghệ, chậm một năm có thể tụt lại cả một thế hệ công nghệ. Mỗi đồng vốn chưa đến được với cuộc sống là một phòng thí nghiệm chưa vận hành, một cơ sở dữ liệu chưa kết nối, một cơ hội làm chủ công nghệ chiến lược bị bỏ lỡ.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ việc thực hiện Nghị quyết 57 còn nhiều điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng, nhân lực, dữ liệu và giải ngân vốn; kết quả thực tế chưa tương xứng với chủ trương và nguồn lực. Vì vậy, không thể coi con số 9.000 tỷ đồng là sai số kỹ thuật của kế toán ngân sách, mà phải coi đó là thước đo kỷ luật thực thi. Cam kết 3% chỉ có ý nghĩa khi 3% ấy được chuyển hóa thành sản phẩm, công nghệ và giá trị thật.

Theo ông, đâu là nguyên nhân dẫn đến bất cập trên và những vấn đề này đặt ra yêu cầu gì đối với cơ chế quản lý, sử dụng nguồn lực cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, thưa ông?

Có nguyên nhân khách quan, nhưng nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Tôi muốn nhấn mạnh 4 điểm.

Thứ nhất, khâu chuẩn bị dự án còn yếu, tức là “vốn chờ dự án” chứ không phải “dự án chờ vốn”. Nhiều nơi đăng ký nhu cầu khi danh mục chưa chín, hồ sơ chưa đủ điều kiện. Không ít dự án chuyển đổi số lớn phải điều chỉnh toàn diện mục tiêu, quy mô, tổng mức đầu tư để tuân thủ phương án sử dụng hạ tầng tập trung tại Trung tâm Dữ liệu quốc gia. Điều chỉnh là cần thiết để bảo đảm kiến trúc thống nhất, nhưng cũng cho thấy tư duy thiết kế tổng thể chưa được đặt đúng từ đầu.

Thứ hai, độ vênh giữa thể chế mới và tập quán quản lý cũ. Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 193/2025/QH15, Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, Luật Chuyển đổi số, Luật Trí tuệ nhân tạo, Luật Ngân sách nhà nước năm 2025…, xác lập cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, chấp nhận rủi ro, quản lý theo kết quả đầu ra, cho phép chuyển nguồn kinh phí. Luật đã mở, nhưng ở nhiều nơi, tư duy “tiền kiểm”, soi hóa đơn, chứng từ vẫn chi phối; việc thuê dịch vụ công nghệ, định giá dữ liệu, mua sắm giải pháp đổi mới sáng tạo còn lúng túng. Khi hướng dẫn chưa rõ, tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm dễ xuất hiện.

Thứ ba, năng lực thực thi và nhân lực số ở cơ sở còn mỏng, nhất là trong giai đoạn vận hành chính quyền địa phương hai cấp; nhiều địa phương có vốn nhưng thiếu người đủ chuyên môn để xây dựng đề án, thẩm định giải pháp công nghệ và tổ chức đấu thầu.

Thứ tư, trách nhiệm người đứng đầu chưa được gắn chặt với tiến độ giải ngân và sản phẩm đầu ra.

Từ đó, cơ chế quản lý nguồn lực phải đổi mới căn bản. Một là, chuyển từ “phân bổ theo đầu vào” sang “cấp vốn theo kết quả”; như Tổng Bí thư yêu cầu, nhiệm vụ chỉ được coi là hoàn thành khi có sản phẩm vận hành, dữ liệu kiểm chứng, người dùng thực tế và hiệu quả đo đếm được. Hai là, vốn phải đi theo dự án đã sẵn sàng; dự án chưa đủ điều kiện thì không giữ vốn, có mốc rà soát giữa năm để điều chuyển kịp thời sang nơi làm được.

Ba là, báo cáo giải ngân phải tách bạch khối lượng hoàn thành với tạm ứng, để con số phản ánh đúng thực chất. Bốn là, cơ chế bảo vệ người dám nghĩ, dám làm phải được cụ thể hóa bằng hướng dẫn rõ ràng, để nguyên tắc chấp nhận rủi ro không dừng trên giấy. Năm là, phân cấp, phân quyền phải đi cùng nguồn lực, năng lực thực thi và kiểm soát quyền lực.

Dưới góc độ cơ quan của Quốc hội phụ trách lĩnh vực khoa học, công nghệ, từ những vấn đề được chỉ ra trong quyết toán ngân sách năm 2025, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội sẽ quan tâm giám sát nội dung này như thế nào để bảo đảm nguồn lực thực hiện Nghị quyết 57 được sử dụng đúng trọng tâm, đúng tiến độ và tạo ra kết quả thực chất?

Quốc hội không làm thay Chính phủ, nhưng như Chủ tịch Quốc hội đã yêu cầu, Ủy ban phải nắm chắc thông tin và giám sát chặt chẽ quá trình đưa các đạo luật về khoa học, công nghệ vào cuộc sống. Tinh thần của chúng tôi là giám sát đến cùng và đo bằng kết quả, tập trung vào 5 hướng.

Một là, giám sát theo dòng vốn gắn với sản phẩm. Ủy ban sẽ đề nghị Chính phủ báo cáo định kỳ, công khai chi tiết tình hình phân bổ, giải ngân theo từng Bộ, ngành, địa phương và từng dự án trọng điểm, nhất là các dự án bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu. Câu hỏi giám sát không chỉ là “đã chi bao nhiêu”, mà là “đã tạo ra được gì”.

Hai là, giám sát việc ban hành văn bản hướng dẫn thi hành, kiên quyết không để luật chờ nghị định, nghị định chờ thông tư. Vướng mắc nào thuộc thể chế, Ủy ban sẽ kịp thời kiến nghị sửa đổi.

Ba là, phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Kinh tế và Tài chính, Kiểm toán nhà nước để theo dõi việc thực hiện kiến nghị kiểm toán; đề nghị xử lý dứt điểm số vốn chưa phân bổ, thu hồi, điều chuyển các khoản không đủ điều kiện giải ngân.

Bốn là, tăng cường giám sát chuyên đề, khảo sát thực địa, chất vấn và giải trình, gắn với trách nhiệm người đứng đầu, bởi kết quả thực hiện Nghị quyết 57 đã được xác định là tiêu chí quan trọng để đánh giá cán bộ.

Năm là, đổi mới chính phương thức giám sát bằng dữ liệu số, theo dõi tiến độ theo thời gian thực để cảnh báo sớm, không đợi đến khi quyết toán mới phát hiện. Nơi nào làm tốt phải được khen thưởng, nhân rộng; nơi nào trì trệ phải được chỉ rõ địa chỉ, trách nhiệm.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã khẳng định, Nghị quyết 57 không phải là khẩu hiệu chính trị mà là chương trình hành động thực tế để Việt Nam cất cánh. Mỗi đồng vốn dành cho khoa học, công nghệ là niềm tin của nhân dân vào con đường phát triển bằng tri thức. Giữ trọn niềm tin ấy, biến nguồn lực thành kết quả thực chất, chính là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó có Quốc hội.

Mỗi đồng vốn dành cho khoa học, công nghệ là niềm tin của nhân dân vào con đường phát triển bằng tri thức. Giữ trọn niềm tin ấy, biến nguồn lực thành kết quả thực chất, chính là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.

Đại biểu Quốc hội Trần Văn Khải - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội

Xin trân trọng cảm ơn ông!./.