Giảm nghèo thực chất: Một số vấn đề đặt ra trong thực hiện CTMTQG phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn I (2026-2030)
(BKTO) - Giai đoạn 2021-2025, công tác giảm nghèo đạt nhiều kết quả quan trọng nhưng còn chênh lệch giữa các vùng và giải ngân vốn sự nghiệp còn thấp; khi giảm nghèo được tích hợp vào Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035, cần đổi mới cách tiếp cận để giảm nghèo thực chất, bền vững, không để ai bị bỏ lại phía sau.

Kết quả giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025
Giai đoạn 2021-2025, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững được triển khai trong bối cảnh có nhiều khó khăn, thách thức. Đại dịch COVID-19, thiên tai, biến đổi khí hậu, biến động kinh tế thế giới và những thay đổi của thị trường lao động đã tác động trực tiếp đến thu nhập, việc làm và đời sống của một bộ phận người dân, nhất là các nhóm dễ bị tổn thương.
Với sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, sự vào cuộc của các bộ, ngành, địa phương và sự tham gia của người dân, Chương trình đã được triển khai trên phạm vi cả nước, tập trung nguồn lực cho các địa bàn khó khăn và các nhóm đối tượng cần được ưu tiên hỗ trợ.
Theo Báo cáo nghiên cứu khả thi số 81/BC-VPĐP-KHTC ngày 31/01/2026 của Văn phòng Điều phối nông thôn mới Trung ương (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), tổng vốn ngân sách trung ương bố trí thực hiện Chương trình giai đoạn 2021-2025 là 47.950,664 tỷ đồng, đạt 99,89% tổng vốn được Quốc hội phê duyệt; trong đó vốn đầu tư phát triển 20.000 tỷ đồng, vốn sự nghiệp 27.950,664 tỷ đồng. Số vốn đã phân bổ, giao cho các bộ, cơ quan trung ương và địa phương là 44.812,631 tỷ đồng. Lũy kế giải ngân đạt 33.257,1 tỷ đồng, bằng 74,2% kế hoạch; trong đó vốn đầu tư phát triển đạt 86,2%, vốn sự nghiệp đạt 64,7%.

Nguồn lực của Chương trình đã góp phần đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu, hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế, đào tạo nghề, tạo việc làm, hỗ trợ nhà ở và cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Qua đó, Chương trình không chỉ cải thiện trực tiếp điều kiện sống của người nghèo mà còn tạo nền tảng để người dân phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập. Cùng với Chương trình, các chính sách về y tế, giáo dục, tín dụng chính sách, nhà ở, nước sạch, việc làm, đào tạo nghề và trợ giúp xã hội đã tạo thành hệ thống chính sách hỗ trợ tương đối toàn diện đối với người nghèo.
Còn chênh lệch vùng miền, giải ngân vốn sự nghiệp thấp
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác giảm nghèo vẫn còn một số hạn chế. Tỷ lệ giảm nghèo cơ bản đạt mục tiêu đề ra nhưng còn chênh lệch giữa các vùng miền, khu vực. Đầu tư còn manh mún, dàn trải; tỷ lệ giải ngân chưa đồng đều, đặc biệt đối với nguồn vốn sự nghiệp. Vẫn còn một bộ phận người dân có tâm lý trông chờ, ỷ lại vào sự giúp đỡ của Nhà nước, chưa tự ý thức vươn lên thoát nghèo.

Cách tiếp cận giảm nghèo mới trong Chương trình mục tiêu quốc gia 2026-2035
Ngày 24/8/2026, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 46/2026/QH16 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035. Chương trình được tích hợp từ các chương trình mục tiêu quốc gia riêng lẻ (xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; phát triển văn hóa; hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển) nhưng không làm giảm mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, nguồn lực.
Việc tích hợp bảo đảm thống nhất chính sách, lồng ghép nội dung, thống nhất đầu mối; tăng cường phân cấp, phân quyền, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin; tăng cường giám sát, hậu kiểm và nâng cao năng lực thực hiện để triển khai đồng bộ trên phạm vi cả nước. Vì vậy, cách tiếp cận giảm nghèo cũng phải thay đổi tương ứng so với giai đoạn trước:
- Cơ chế, chính sách hỗ trợ giảm nghèo nằm trong tổng thể chính sách chung về văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035.
- Mục tiêu giảm nghèo gắn với các mục tiêu xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, giảm các chiều thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, việc làm, nhà ở, nước sạch và vệ sinh môi trường, tiếp cận thông tin.
- Hỗ trợ giảm nghèo phải bảo đảm thực chất: đúng đối tượng, đúng địa bàn, phát huy lợi thế vùng miền, gắn với tăng trưởng xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu và chuyển đổi số; hỗ trợ có điều kiện để giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững, hạn chế tái nghèo.
- Các địa phương chủ động phân bổ nguồn lực, lựa chọn mục tiêu giảm nghèo để triển khai, quản trị theo đầu ra, tăng cường hậu kiểm và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành.
Giải pháp giảm nghèo thực chất giai đoạn 2026-2030

Để hộ nghèo, hộ cận nghèo thoát nghèo bền vững, thực chất và hộ mới thoát nghèo không tái nghèo theo cách tiếp cận mới, chính sách hỗ trợ cần tập trung vào những thay đổi có tính nền tảng sau:
- Trao quyền và tạo năng lực tự thân: khơi dậy ý chí tự vươn lên thoát nghèo, không trông chờ, ỷ lại vào sự giúp đỡ của Nhà nước, thông qua các cơ chế hỗ trợ phát triển sản xuất (theo chuỗi giá trị, hỗ trợ cộng đồng, hỗ trợ theo nhiệm vụ, hỗ trợ đặc thù); ưu tiên hỗ trợ trực tiếp cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; đẩy mạnh truyền thông nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi.
- Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong toàn bộ quá trình thực hiện Chương trình theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”: người dân tham gia lựa chọn danh mục dự án hỗ trợ và tự giám sát; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lấy ý kiến người dân cấp xã, đánh giá sự hài lòng của Nhân dân đối với kết quả thực hiện Chương trình.
- Thiết kế chính sách lấy con người làm trung tâm, là động lực phát triển, giải quyết vấn đề thực chất, hiệu quả:
+ Đầu tư cho con người: nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nghề, năng lực chuyển đổi số; nâng cao năng lực y tế cơ sở, chăm sóc sức khỏe ban đầu, dinh dưỡng.
+ Tạo sinh kế bền vững gắn với lợi thế vùng miền: phát triển chuỗi giá trị, sản phẩm OCOP, vùng dược liệu, kinh tế nông thôn theo hướng xanh, tuần hoàn, sinh thái; kết hợp hỗ trợ trực tiếp với tín dụng ưu đãi của Ngân hàng Chính sách xã hội; giữ gìn bản sắc văn hóa làm nguồn lực nội sinh thông qua bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa, phát triển công nghiệp văn hóa, du lịch cộng đồng; đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung phân tách theo giới tính, dân tộc, độ tuổi, tình trạng khuyết tật để nhận diện đúng nhóm chưa được tiếp cận đầy đủ chính sách.
+ Giải quyết các nhu cầu bức thiết về điều kiện sống: nhà ở, đất ở, nước sinh hoạt và vệ sinh, bố trí tái định cư an toàn và hạ tầng thiết yếu phục vụ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
+ Bảo đảm tính ổn định, không để ai bị bỏ lại phía sau: không thu hẹp mục tiêu, đối tượng thụ hưởng, quyền lợi đã được Quốc hội quyết định.
- Tăng cường hậu kiểm: quản trị theo mục tiêu; gắn trách nhiệm người đứng đầu; chỉ đạo thống nhất từ trung ương tới cơ sở; ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quản lý, chỉ đạo, điều hành; phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, Kiểm toán Nhà nước, bảo đảm công khai, minh bạch và hiệu quả./.
Tin liên quan
Có thể bạn quan tâm
Phát huy vai trò tiên phong, trách nhiệm - Đoàn thanh niên Kiểm toán nhà nước chung tay đẩy lùi khói thuốc
(BKTO) - Tuổi trẻ Kiểm toán nhà nước (KTNN) quyết tâm hành động vì sức khỏe của bản thân, đồng nghiệp, gia đình và cộng đồng; cùng chung tay xây dựng môi trường