aa
◐

Gỡ điểm nghẽn để pháp luật đến gần đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

THẢO CHI |

(BKTO) - Độ phủ của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đang từng bước được mở rộng, nhưng khoảng cách về địa lý, ngôn ngữ, nhân lực và nguồn lực vẫn là những rào cản đáng kể. Yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là tăng số lượng hoạt động tuyên truyền, mà phải lựa chọn đúng địa bàn, đúng đối tượng, phát huy lực lượng tại chỗ và đổi mới phương thức để người dân thực sự hiểu, tiếp nhận và vận dụng pháp luật trong đời sống.

Gỡ điểm nghẽn để pháp luật đến gần đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Ảnh: Thảo Chi

Đến cuối tháng 10/2026, 31/34 tỉnh, thành phố đã ban hành kế hoạch triển khai Đề án phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) giai đoạn 2026-2035. Đây là một trong những kết quả đáng chú ý sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 233/QĐ-TTg, tạo cơ sở để công tác PBGDPL tại vùng DTTS&MN được triển khai đồng bộ hơn trong giai đoạn mới.

Cùng với việc hoàn thiện cơ chế, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã dành hơn 9,2 tỷ đồng cho các hoạt động tuyên truyền chuyên đề; tổ chức tập huấn cho hơn 5.500 lượt đồng bào, chức sắc tôn giáo; đồng thời thực hiện truyền thông đối với 19 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trên báo chí và môi trường số. Bộ cũng tham mưu trình Chính phủ ban hành Nghị định số 307/2026/NĐ-CP về chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào DTTS.

Những con số này cho thấy phạm vi tuyên truyền đang được mở rộng. Tuy nhiên, từ “đưa thông tin đến” đến “giúp người dân hiểu và sử dụng pháp luật” vẫn còn một khoảng cách cần tiếp tục thu hẹp.

Độ phủ tăng nhưng khoảng cách tiếp cận vẫn hiện hữu

Tại cuộc làm việc ngày 28/10 giữa Bộ Dân tộc và Tôn giáo với Đoàn công tác của Hội đồng phối hợp PBGDPL Trung ương, những khó khăn trong tổ chức thực hiện được nhìn nhận khá rõ. Phạm vi quản lý rộng, địa bàn nhiều nơi chia cắt, cán bộ làm công tác pháp chế và PBGDPL còn mỏng, trong khi sự khác biệt về tiếng nói, chữ viết đặt ra yêu cầu phải có những phương thức truyền tải phù hợp với từng cộng đồng.

Thứ trưởng Thường trực Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Hoài Anh cho biết, Bộ hiện có 235 công chức, trong đó Vụ Pháp chế có 13 công chức. Với một lĩnh vực liên quan trực tiếp đến nhiều nhóm chính sách dân tộc, tôn giáo và địa bàn rộng khắp cả nước, nguồn nhân lực này phải đảm nhận khối lượng công việc lớn từ tham mưu xây dựng thể chế đến tổ chức thực hiện và tuyên truyền pháp luật.

Bài toán vì thế không đơn thuần nằm ở việc tăng thêm các hội nghị hay tài liệu tuyên truyền. Ở những vùng có nhiều đồng bào DTTS sinh sống, cách truyền đạt mới là yếu tố quyết định khả năng tiếp nhận. Một nội dung pháp luật nếu chỉ được chuyển tải bằng ngôn ngữ hành chính, thiên về đọc điều khoản, rất khó tạo được sự quan tâm của người dân.

Thứ trưởng Thường trực Nguyễn Hoài Anh cho rằng, tuyên truyền pháp luật cần chú trọng chuyển tải tinh thần và nội dung cốt lõi của quy định, thay vì để người dân phải tiếp nhận những điều khoản khô cứng. Cách làm này đặc biệt có ý nghĩa tại vùng DTTS&MN, nơi người dân có sự khác biệt về ngôn ngữ, tập quán và điều kiện tiếp cận thông tin.

Từ thực tế đó, công nghệ cũng được đặt vào nhóm giải pháp cần được khai thác mạnh hơn. Việc nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo, các công cụ dịch thuật và nền tảng số có thể giúp hỗ trợ chuyển tải nội dung pháp luật bằng cách dễ tiếp cận hơn, nhất là đối với những địa bàn có sự khác biệt lớn về tiếng nói, chữ viết.

Tuy nhiên, chuyển đổi số không thể thay thế hoàn toàn vai trò của lực lượng tại cộng đồng. Với nhiều vấn đề gắn trực tiếp đến đời sống như hôn nhân, đất đai, an sinh xã hội, tín ngưỡng hay chính sách dân tộc, người dân vẫn cần những người am hiểu phong tục và có uy tín để giải thích, hướng dẫn theo cách gần gũi.

Tập trung nguồn lực, phát huy những “cầu nối” ở cơ sở

Trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, Bộ Dân tộc và Tôn giáo xác định việc triển khai PBGDPL cần tránh dàn trải, tập trung vào những địa bàn, nhóm đối tượng và nội dung thực sự cần thiết. Một trong những hướng đi được đặt ra là tăng cường phối hợp với các ban, bộ, ngành Trung ương, chính quyền địa phương và chủ động lồng ghép nguồn kinh phí PBGDPL trong quá trình thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia.

Cách tiếp cận này giúp hạn chế tình trạng mỗi nhiệm vụ được triển khai tách rời, đồng thời tận dụng được mạng lưới cán bộ, nguồn lực và các chương trình đang có tại cơ sở. Việc lựa chọn một số mô hình điểm để tập trung đầu tư, đánh giá hiệu quả trước khi nhân rộng cũng được xem là hướng đi phù hợp trong bối cảnh nguồn lực có hạn.

Đáng chú ý, Bộ xác định hơn 10.000 người có uy tín trong đồng bào DTTS cùng đội ngũ chức sắc, chức việc tôn giáo là lực lượng quan trọng trong quá trình đưa chính sách đến cộng đồng. Đây là những người có khả năng tác động trực tiếp đến nhận thức, hành vi của người dân bởi họ có sự am hiểu về ngôn ngữ, phong tục và có mức độ tín nhiệm nhất định tại địa bàn.

Nếu được cung cấp thông tin đầy đủ, bồi dưỡng kỹ năng và hỗ trợ phương tiện phù hợp, lực lượng này có thể trở thành những “điểm nối” giữa chính sách với người dân, nhất là tại những nơi cán bộ chuyên môn khó có điều kiện thường xuyên tiếp cận.

Một hướng khác được đặt ra là lựa chọn đối tượng hỗ trợ pháp lý sát hơn với đặc điểm kinh tế của vùng DTTS&MN. Thay vì tập trung chủ yếu vào doanh nghiệp, Bộ Dân tộc và Tôn giáo lưu ý cần quan tâm nhiều hơn đến khu vực hợp tác xã - mô hình đang gắn khá chặt với sản xuất, sinh kế và tiêu thụ sản phẩm tại nhiều địa bàn miền núi.

Từ góc độ của Hội đồng phối hợp PBGDPL Trung ương, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Phạm Mạnh Cường cũng nhấn mạnh yêu cầu đổi mới phương thức triển khai theo hướng thực chất hơn, lấy người dân và cơ sở làm trung tâm. Công tác truyền thông chính sách cần được tiến hành từ sớm, ngay trong quá trình xây dựng văn bản, đồng thời gắn với chuyển đổi số và các hoạt động hưởng ứng Ngày Pháp luật Việt Nam.

Nhìn từ những vấn đề đặt ra tại cuộc làm việc, công tác PBGDPL vùng DTTS&MN đang đứng trước yêu cầu chuyển từ mở rộng độ phủ sang nâng chất lượng tiếp cận. Số hội nghị, số người tham dự hay lượng sản phẩm truyền thông vẫn cần thiết, nhưng chưa thể là thước đo duy nhất.

Hiệu quả cuối cùng phải được thể hiện ở việc người dân có hiểu chính sách liên quan trực tiếp đến mình, có biết quyền và nghĩa vụ của mình, biết tìm đến đâu khi cần hỗ trợ và có khả năng vận dụng pháp luật để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong đời sống hay không.

Để làm được điều đó, cùng với việc hoàn thiện thể chế, nguồn lực cần được sử dụng có trọng tâm; công nghệ phải hỗ trợ giảm khoảng cách tiếp cận; và đặc biệt, những người có uy tín, chức sắc tôn giáo cùng lực lượng tại cơ sở cần được phát huy đúng vai trò. Khi pháp luật được chuyển tải bằng cách người dân dễ hiểu, qua những người họ tin cậy và gắn với những vấn đề họ đang quan tâm, PBGDPL mới thực sự đi từ “đưa thông tin xuống cơ sở” đến “đưa pháp luật vào cuộc sống”.