Hiệu quả đầu tư công tạo dư địa cho tăng trưởng hai con số
(BKTO) - Đánh giá về triển vọng kinh tế năm 2026, TS. Nguyễn Đức Kiên - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, nguyên Tổ trưởng Tổ Tư vấn của Thủ tướng Chính phủ - cho rằng, mục tiêu tăng trưởng cao là khả thi nếu các điều kiện thuận lợi được duy trì. Tuy nhiên, yếu tố quyết định không nằm ở quy mô giải ngân mà ở hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công, khả năng thu hút đầu tư tư nhân và tạo dư địa cho tăng trưởng trong những năm tiếp theo.

Thưa ông, ông đánh giá như thế nào về bức tranh kinh tế 6 tháng đầu năm 2026?
Theo tôi, điểm tích cực nhất là kinh tế vĩ mô tiếp tục giữ vững ổn định, mặc dù nền kinh tế phải đối mặt với cú sốc lớn về giá dầu do tác động từ xung đột tại khu vực Hormuz.
Thứ hai, chúng ta đã quyết định triển khai hàng loạt dự án đầu tư quy mô lớn, mà về bản chất đều là đầu tư công hoặc được hình thành từ nguồn lực đầu tư công. Đây chính là nền tảng quan trọng để tạo dư địa hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số trong những năm tới.
Thứ ba, niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp đối với cơ chế, chính sách đang từng bước được khôi phục.
Tuy nhiên, những kết quả này chưa thật sự bền vững. Chúng ta vẫn thiếu những chính sách hỗ trợ đủ mạnh để giảm chi phí cho doanh nghiệp. Chẳng hạn, trong 2 tháng cuối quý II, lãi suất huy động tăng khá nhanh, phản ánh áp lực thanh khoản của hệ thống ngân hàng. Điều này khiến chi phí vốn của nền kinh tế tăng lên, qua đó ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.
Về các động lực tăng trưởng hiện nay thì sao, theo đánh giá của ông?
Hiện nay, tăng trưởng vẫn chủ yếu dựa vào các động lực truyền thống, trước hết là đầu tư công, tiếp đến là xuất khẩu. Trong khi đó, các động lực mới như công nghệ cao, đổi mới sáng tạo hay những ngành có giá trị gia tăng lớn mới dừng ở kỳ vọng, chưa thực sự tạo ra đóng góp đáng kể cho nền kinh tế. Điều này cũng dễ hiểu bởi các dự án công nghệ cao cần thời gian để hình thành. Ví dụ, một nhà máy sản xuất chip thường mất khoảng 3 năm để đưa vào vận hành. Nếu bắt đầu từ thời điểm này thì cũng phải đến năm 2029-2030 mới có thể phát huy hiệu quả rõ nét.
Hiện nay, chúng ta đang tập trung nguồn lực rất lớn cho đầu tư công và phát triển hạ tầng. Trong suốt 81 năm kể từ ngày thành lập nước, chưa bao giờ Việt Nam dành nguồn lực cho đầu tư công lớn như giai đoạn 2026-2030. Đây là chu kỳ đầu tư công có quy mô lớn nhất từ trước đến nay.
Tôi cũng muốn nhấn mạnh một cách tiếp cận mới. Thay vì nói “đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư nhân”, tôi cho rằng giai đoạn này cần chuyển sang tư duy “đầu tư công thu hút đầu tư tư nhân”. Hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau. “Dẫn dắt” là Nhà nước đầu tư trước rồi kỳ vọng khu vực tư nhân sẽ đi theo. Còn “thu hút” là Nhà nước chủ động tạo dựng hạ tầng, thể chế và chính sách ưu đãi đủ hấp dẫn để dòng vốn tư nhân chủ động tìm đến.
Như Tổng Bí thư đã nhấn mạnh, chúng ta phải lựa chọn đúng công nghệ, đúng nhà đầu tư và đúng dự án. Muốn vậy, chính sách ưu đãi phải minh bạch, có trọng tâm và đủ sức hấp dẫn để những nhà đầu tư đi đúng định hướng được hưởng lợi ích tương xứng.
Có thể hình dung đơn giản, nếu doanh nghiệp đáp ứng đầy đủ yêu cầu về công nghệ và chuyển đổi số thì sẽ được tham gia vào “toa tàu hiện đại” với hạ tầng và điều kiện tốt nhất. Những doanh nghiệp chưa đáp ứng được vẫn có thể tham gia, nhưng với điều kiện phù hợp hơn. Quan trọng nhất là Nhà nước phải tạo dựng được môi trường đầu tư đủ hấp dẫn để doanh nghiệp muốn đồng hành.
Muốn thu hút đầu tư tư nhân thì nhất thiết phải có cơ chế ưu đãi phù hợp. Đây cũng là sự tiếp nối tư duy khi Việt Nam ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1988 để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Hiện nay, chúng ta cần tiếp tục đổi mới thể chế nhằm khơi thông mạnh mẽ hơn nguồn vốn tư nhân trong nước.
Ngay cả cơ chế đối với doanh nghiệp nhà nước cũng cần tiếp tục hoàn thiện. Nếu Nhà nước nắm giữ 51% vốn thì doanh nghiệp vẫn là công ty cổ phần và quyền lợi của các cổ đông còn lại phải được tôn trọng. Nếu Nhà nước yêu cầu doanh nghiệp thực hiện thêm các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội thì cũng cần có cơ chế chia sẻ lợi ích tương xứng. Chúng ta cần chuyển từ tư duy quản lý sang hợp tác, từ áp đặt sang thu hút.

Vậy theo ông, điều gì cần quan tâm hơn cả để vừa đạt mục tiêu tăng trưởng năm 2026, vừa tạo nền tảng cho phát triển bền vững trong những năm tiếp theo?
Theo tôi, nếu không xuất hiện những biến động lớn và các điều kiện như quý II tiếp tục được duy trì thì tăng trưởng năm nay hoàn toàn có thể đạt khoảng 9,2-9,7%.
Tuy nhiên, điều tôi quan tâm hơn không phải là kết quả của riêng năm 2026, mà là khả năng duy trì tăng trưởng cao trong những năm tiếp theo, sau khi chu kỳ đầu tư công hiện nay kết thúc. Đó mới là bài toán cần được giải quyết.
Hiện nay, chúng ta đang đưa một lượng vốn đầu tư rất lớn vào nền kinh tế nên tăng trưởng cao là điều dễ hiểu. Theo quy định, ngay sau khi ký hợp đồng, nhà thầu có thể được tạm ứng khoảng 30% giá trị hợp đồng, vì vậy dòng tiền sẽ đi vào nền kinh tế rất nhanh. Nhưng nếu nguồn vốn này không được hấp thụ hiệu quả thì nguy cơ lạm phát sẽ xuất hiện.
Theo tôi, giải pháp quan trọng nhất để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công. Mỗi dự án cần được đánh giá toàn diện trên cơ sở hiệu quả đầu tư: Tiến độ triển khai có bảo đảm hay không, chất lượng công trình ra sao, tác động trực tiếp và lan tỏa đối với nền kinh tế như thế nào. Một dự án chỉ thực sự thành công khi vừa tạo ra hiệu quả kinh tế trực tiếp, vừa thu hút được nguồn lực đầu tư tư nhân.
Hoạt động kiểm toán cũng cần góp phần thúc đẩy sự chuyển đổi tư duy về thu hút đầu tư thông qua việc đánh giá đúng hiệu quả đầu tư, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước cũng như các cổ đông, nhà đầu tư.
TS. Nguyễn Đức Kiên
Bên cạnh đó, tôi cho rằng cần tách riêng chi phí giải phóng mặt bằng khỏi chi phí đầu tư xây dựng khi đánh giá hiệu quả dự án. Tổng mức đầu tư vẫn giữ nguyên, nhưng phải phân định rõ đâu là chi phí xây dựng công trình và đâu là chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng. Đây là quan điểm tôi đã nhiều lần đề xuất trong suốt 17 năm qua.
Tôi từng lấy ví dụ về nút giao Cầu Giấy năm 2008. Khi đó, tổng mức đầu tư hơn 100 tỷ đồng nhưng chi phí giải phóng mặt bằng chiếm khoảng 87 tỷ đồng, còn chi phí thi công chỉ hơn 20 tỷ đồng. Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả dự án cần nhìn vào phần vốn thực sự đầu tư cho công trình, thay vì cộng toàn bộ chi phí để rồi gọi đó là “con đường đắt nhất hành tinh”.
Thực chất, chi phí giải phóng mặt bằng phản ánh cái giá phải trả cho những hạn chế trong công tác quy hoạch và quản lý đất đai trong nhiều năm trước. Nếu quy hoạch được thực hiện tốt, quản lý đất đai chặt chẽ và công khai đầy đủ thì khoản chi này đã không lớn như vậy.
Mặt khác, đây cũng là khoản hỗ trợ để người dân ổn định và cải thiện cuộc sống sau khi bị thu hồi đất. Vì vậy, cần nhìn nhận chi phí giải phóng mặt bằng đúng bản chất, thay vì coi đó hoàn toàn là chi phí xây dựng công trình.
Xin trân trọng cảm ơn ông!./.
Tin liên quan
Có thể bạn quan tâm
Sức mạnh của các Tập đoàn đầu tư chiến lược Việt Nam: Từ tích lũy nguồn lực đến bứt phá
(BKTO) - Tổng quy mô tài sản của Top 30 Tập đoàn Đầu tư chiến lược Việt Nam năm 2026 (ALPHA30) lên tới 4,29 triệu tỷ đồng và doanh thu khoảng 1,73 triệu tỷ đồng